Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP-NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DH THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài GD dựa trên năng lực (Competency based education) xuất hiện đầu tiên ở Mỹ. Đạo luật Nông nghiệp Morrill Land 1862 cung cấp nền tảng đầu tiên cho khái niệm nền GD ứng dụng dựa trên nhu cầu của các nông trại và nông dân, những người không thể theo học đại học và cao đẳng danh tiếng của miền Đông nước Mỹ.
Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, việc sản xuất nông trại được máy móc hóa dẫn đến việc xây dựng các trường cao đẳng nông nghiệp ở vùng nông thôn, cung cấp cơ hội ĐT nghề cho nông dân tương lai, trợ giúp cho các hoạt động và quản lý nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn của Mỹ. Các chương trình giảng dạy nhấn mạnh vào ĐT hơn là dạy và học theo lối truyền thống. Mục tiêu là hướng tới đánh giá việc khả năng vận dụng kiến thức được học của HS vào các tình huống công việc thực tế. Mô hình GD này phát triển mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực dạy nghề ở những năm 70… [10, 2018].
Với việc xuất hiện từ rất sớm và dần dần cho thấy những ưu điểm nên việc nghiên cứu và ứng dụng ĐT theo NL được các nước tiên tiến trên thế giới vận dụng đáp ứng yêu cầu của ĐT kỹ thuật nghề nghiệp. Năm 1983, Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ đã có một báo cáo đề cập đến việc các hội nghiên cứu, các chủ doanh nghiệp cần nghiên cứu và thay đổi các yêu cầu về GD ĐT, cần thay đổi các chương trình DH, các yêu cầu chương trình phải dựa trên NL hơn là dựa theo thời gian. Ở Australia, vào cuối những năm 80 họ đã tổ chức những buổi hội thảo về ĐT theo NL hay năng lực thực hiện (NLTH), mục đích tạo diễn đàn cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ĐT dựa trên NL trao đổi ý kiến, quan điểm về vấn đề này. Phương thức ĐT nghề dựa trên NLTH cũng được áp dụng từ đây.
Họ đã thành lập Hội đồng 6 ĐT quốc gia để xúc tiến việc xây dựng các tiêu chuẩn NLTH trên toàn quốc. Theo Nguyễn Đức Trí (1993), ở Canađa, sự phát triển kinh tế - xã hội đã gây sức ép phải thay đổi phương thức ĐT, đặc biệt là ĐT nghề. Những cải cách trong lĩnh vực ĐT nghề đã chỉ ra những phương thức linh hoạt hơn trong ĐT, chỉ ra mối quan hệ đến sự thực hiện hơn là thời gian ĐT, đó chính là ĐT dựa trên NLTH. Ban đầu chỉ có các tổ chức ĐT nhận ra lợi thế của phương thức này trong ĐT nghề.
Trong những năm gần đây, các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở đây đã cùng ngành GD có sự quan tâm hơn, đầu tư nhiều hơn cho phương thức ĐT dựa trên NLTH song song với việc xây dựng các chuẩn quốc gia về ĐT nghề nghiệp [22]. Theo Nguyễn Thị Thái [19, tr89-100], đối với GD phổ thông, Singapore lấy phương châm GD lấy NL làm mục tiêu phát triển với mục đích ĐT HS phải có khả năng sáng tạo và đổi mới, biết chấp nhận rủi ro và là người luôn tự giác học hỏi, có thể làm việc tập thể và là người trung thành với đất nước. Năm 2002, Bộ GD Singa- pore đã đưa ra hai PP dạy và học mới trong đó có PP SAIL (Chiến lực cho học tập độc lập và chủ động) được áp dụng đầu tiên cho cấp Tiểu học dựa trên sự phát triển NL của HS thay vì chỉ tập trung nội dung như trước đây. Nhờ đó HS có được kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, cũng như PP làm việc theo nhóm, tất cả những kĩ năng này đều có ích với họ trong nền kinh tế tri thức.
Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Thái, bước sang thế kỉ XXI, Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục thực hiện cải cách trong GD cho dù triết lý GD về cơ bản là không thay đổi. Mục tiêu là GD nên những HS có tri thức, biết tư duy độc lập, có NL phê phán và có trách nhiệm cá nhân với xã hội. Ở một số nước châu Á tiên tiến khác như Ấn Độ, Philippines, Brunei, Hàn Quốc … phương thức ĐT trên NLTH cũng đã và đang vận dụng ở nhiều mức độ khác nhau. Các bộ chương trình, kế hoạch ĐT nghề dựa trên NLTH cho các trường chuyên nghiệp, nhất là các trường kỹ thuật, đã được ban hành và triển khai sử dụng có kết quả trong một vài năm trở lại đây.
Như vậy dù là GD phổ thông hay GD nghề nghiệp thì ĐT theo NL đã được các quốc gia nghiên cứu từ lâu và hiện nay được xem là một xu hướng được nhiều 7 quốc gia tiên tiến ứng dụng vào quá trình DH ở các trường chuyên nghiệp, các trường kỹ thuật và nhất là ở lĩnh vực ĐT nghề, tuy nhiên tuỳ theo mục tiêu của ĐT mà cách gọi PP ĐT có khác nhau và việc vận dụng mô hình này được thay đổi cho phù hợp. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu DH theo định hướng phát triển NL, tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung đi vào hình thành NL thực hiện các nhiệm vụ, nhất là trong lĩnh vực GD nghề nghiệp, cụ thể: Trong đề tài cấp Bộ B93-52-24: “Tiếp cận ĐT nghề dựa trên NLTH và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề”, tác giả Nguyễn Đức Trí (Viện khoa học GD Việt Nam) đã nêu lên những quan điểm về ĐT theo tiếp cận NLTH [22]. Đề tài nghiên cứu này đã làm rõ một số khái niệm, quan điểm về NLTH cũng như ĐT theo NLTH. Đây là cơ sở lý luận cho việc phát triển phương thức ĐT này ở Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn [25] đã hệ thống hóa lý thuyết về ĐT theo NLTH như: khái niệm NLTH, những cơ sở chung về ĐT theo NLTH; ưu điểm hạn chế của cách tiếp cận NLTH và chỉ rõ sự khác biệt giữa ĐT theo NLTH với ĐT theo truyền thống. Tác giả cũng trình bày quy trình phát triển chương trình ĐT theo tiếp cận NLTH và có những ví dụ minh hoạ rõ ràng. Tác giả Đỗ Mạnh Cường [6] cũng đã nghiên cứu về NLTH, cấu trúc của NLTH hoạt động chuyên môn, cách tiếp cận NLTH trong ĐT nghề. Tác giả cũng đề xuất PP DH tích hợp để phát triển NLTH tương ứng với biểu đồ phân tích nghề Dacum.
Ngoài ra, một số tác giả sau đã vận dụng lý thuyết này vào những nghiên cứu ứng dụng cụ thể có thể kể tới các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng với đề tài “Các giải pháp đổi mới quản lý DH thực hành theo tiếp cận NLTH cho SV sư phạm kỹ thuật” [13] đã làm rõ các khái niệm, phân tích những đặc điểm của phương thức ĐT tiếp cận NLTH, sự khác biệt so với PP ĐT truyền thống; tác giả chỉ ra những yêu cầu khách quan phải đổi mới quản lý DH thực hành, từ đó đã tiến hành đánh giá thực trạng nội dung, xác định những yếu kém, đưa ra những đề xuất và thực nghiệm 3 giải pháp đổi mới quản lý DH thực hành theo tiếp cận NLTH cho SV sư phạm kỹ thuật; 8 Tác giả Lê Thùy Linh với đề tài: “DH GD học ở đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện” [16] cũng đã hệ thống các khái niệm, đặc điểm của DH theo tiếp cận NL; tác giả cũng chỉ ra được sự đổi mới trong cách thức DH MH GD học dựa trên NLTH; tác giả cũng đã chỉ ra những vấn đề từ PP DH truyền thống qua đó đề xuất quy trình tổ chức DH GD học theo NLTH và thực nghiệm để kiểm nghiệm quy trình; Tác giả Cao Danh Chính với nội dung nghiên cứu: “Dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện ở các trường đại học sư phạm kỹ thuật” [5] đã nghiên cứu làm rõ thêm lý luận về DH theo NLTH, thực trạng của các vấn đề DH và đánh giá nó theo tiêu chuẩn NLTH; tác giả cũng đề xuất xây dựng hệ thống tiêu chuẩn NLTH của GV dạy nghề và quy trình DH theo tiếp cận NLTH ở các trường ĐHSPKT; Trong lĩnh vực GD, một số tác giả cũng đã nghiên cứu các PP DH theo định hướng NL nói chung vào trong DH, cụ thể như nhóm tác giả Nguyễn Văn Cường và đồng nghiệp đã biên soạn sách “Lí luận dạy học hiện đại” [7]. Tác giả đã khái quát bối cảnh hiện nay và định hướng vào thực tiễn đổi mới GD Việt Nam. Trong đó tác giả đã đề cập và làm rõ các vấn đề như DH định hướng theo mục tiêu, định hướng theo NL và người học, nhấn mạnh tính đa dạng của các PP DH. Điểm mới định hướng chính trong quá trình DH hiện đại chính là quan điểm GD định hướng NL.
Lí luận DH nhấn mạnh định hướng NL phù hợp với thực tiễn đổi mới GD ở Việt Nam. Tài liệu cũng làm cơ sở cho việc ĐT thạc sĩ, tham khảo cho các ngành sư phạm và những ai quan tâm đến GD học. Tác giả Huỳnh Văn Sơn và nhóm tác giả (2017) [18] trình bày PP luận về NL và phát triển NL học sinh phổ thông; lí luận về PPDH và đổi mới PPDH theo định hướng phát triển NL; Các PPDH phát triển NL HS phổ thông trong đó bao gồm một số PPDH (Webquest, Bàn tay nặn bột, DH giải quyết vấn đề, khám phá, theo nhóm) và một số kĩ thuật DH phát triển NL HS phổ thông (chia nhóm, khăn trải bàn, phòng tranh, công đoạn, mảnh ghép, công não…). Đây là quyển tài liệu với những thành tựu mới về PPDH, đặc biệt là những kĩ thuật DH được nhóm tác giả khai thác dựa trên nền tảng của Tâm lí học hiện đại, NL và phát triển NL của con người.
Từng PPDH 9 và kĩ thuật DH được phân tích, hướng dẫn và định hướng tổ chức theo quan điểm GD hiện đại như: DH tích cực dựa trên nền tảng tổ chức hoạt động DH theo cách tiếp cận hiện đại và tích cực, nội dung mang tính thực hành cao dựa trên nền tảng của lý thuyết cụ thể và chi tiết.