CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT ( CHƯƠNG TRÌNH 2018 ) 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Dạy học phát triển năng lực Dạy học dựa trên phát triển năng lực đã trở thành một chủ đề được quan tâm trong giáo dục ngày nay. Nó ngày càng trở nên quan trọng hơn khi chính phủ đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp trong cải cách giáo dục và đo lường chính xác hơn kết quả học tập của học sinh. Hầu hết các trường học đều tuyên bố là họ đang dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhưng lại không thể định nghĩa được một cách chính xác được về nó, vì vậy việc xác định lại khái niệm học tập dựa trên phát triển năng lực là gì? và nó mang lại lợi ích gì cho mỗi trường học cũng như hệ thống giáo dục nói chung? Dạy học dựa trên phát triển năng lực là gì và điều gì làm cho nó khác biệt? Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là đo được “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học tập và cấp lớp.
Học sinh thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình, điều đó có nghĩa là chúng phải chứng minh mức độ làm chủ/nắm vững kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực) trong một môn học cụ thể, cho dù mất bao lâu. Mặc dù các mô hình học truyền thống vẫn có thể đo lường được năng lực, nhưng chúng phải dựa vào thời gian, các môn học được sắp xếp theo cấp lớp vào từng kì học, năm học. Vì vậy, trong khi hầu hết các trường học truyền thống đều cố định thời gian học tập (theo năm học) thì dạy học phát triển năng lực lại cho phép chúng ta giữ nguyên việc học và để thời gian thay đổi học. Dạy học dựa trên phát triển năng lực tốt hơn cho phép mọi học sinh học tập, nghiên cứu theo tốc độ của riêng của chúng.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chúng ta đều thừa nhận rằng, mỗi học sinh là một cá thể độc lập với sự khác biệt về năng lực, trình độ, sở thích, nhu cầu và nền tảng xuất thân. Dạy học phát triển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp với mỗi học sinh. Không giống như phương pháp “một cỡ vừa cho tất cả” một chiếc áo tất cả đều mặc vừa, nó cho phép học sinh được áp dụng những gì đã học, thông qua sự gắn kết giữa bài học và cuộc sống. Điều này cũng giúp học sinh thích ứng với những thay đổi của cuộc sống trong tương lai.
Đối với một số học sinh, dạy học phát triển năng lực cho phép đẩy nhanh tốc độ hoàn thành chương trình học, tiết kiệm thời gian và công sức của việc học tập. Để triển khai một cách hiệu quả, dạy học phát triển năng lực cần phải: 1. Đánh giá “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học Khai thác các thế mạnh của công nghệ cho việc dạy và học. Hướng dẫn qua máy tính cho chúng ta khả năng cá nhân hóa việc học cho mỗi học sinh.
Bởi vì mỗi học sinh ở một tốc độ khác nhau và đến trường với kiến thức khác nhau, đây là một yêu cầu cơ bản của dạy học dựa trên năng lực. Thay đổi căn bản vai trò của giáo viên, khi các giáo viên trước kia thường làm việc với học sinh theo các lớp, dạy học theo lịch trong một số tuần quy định, giáo viên là người trực tiếp đưa hướng dẫn và kiểm soát quá trình học tập. Đối với học sinh, điều này không phù hợp. Một số học sinh sẽ cần chậm lại, một số khác có thể cần hoạt động nhanh hơn.
Học tập dựa trên phát triển năng lực làm thay đổi vai trò của giáo viên từ “một nhà hiền triết, suối nguồn của tri thức” đến “ người hướng dẫn, đồng hành”. Các giáo viên làm việc với học sinh, hướng dẫn chúng học tập, trả lời các câu hỏi, hướng dẫn thảo luận và giúp học sinh tổng hợp và áp dụng kiến thức. Xác định năng lực và phát triển các đánh giá phù hợp, tin cậy. Tiền đề cơ bản của dạy học phát triển năng lực là chúng ta xác định những năng lực nào cần hình thành cho học sinh và có minh chứng cho các năng lực đó khi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học sinh tốt nghiệp.
Điều này có nghĩa là chúng ta phải xác định các năng lực một cách rất rõ ràng. Lấy nhu cầu của xã hội tương lai làm cơ sở. Khi các năng lực được thiết lập, chúng ta cần các chuyên gia đánh giá để đảm bảo rằng chúng ta đo lường được một cách chính xác nhất có thể. Sáng tạo và năng lực sáng tạo Sáng tạo là hoạt động mang tính tinh thần của mỗi cá nhân và mỗi người lại có cách thức và con đường sáng tạo khác nhau.
Vì lẽ đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra quy luật chung cho sự sáng tạo là một nhiệm vụ không hề dễ dàng. Cho đến nay, hầu hết các định nghĩa về sáng tạo đều tập trung nhấn mạnh vào đặc điểm của sản phẩm sáng tạo Tác giả Phan Dũng và một số nhà nghiên cứu khác đều cho rằng “sáng tạo là hoạt động tạo ra cái gì đồng thời có tính mới và tính ích lợi”. Dựa vào sản phẩm để đánh giá quá trình tạo ra nó là một hướng đi cần thiết để gọi tên, khu biệt một hoạt động khi người ta không thể quan sát trực tiếp được nó. Tuy nhiên, hướng đi này do chỉ đi tìm những dấu hiệu cụ thể để chứng minh cho cái gọi là “sáng tạo” nên dễ rơi vào những nhận định, đánh giá chủ quan.
Hơn thế nữa, một sản phẩm sáng tạo của một hay nhiều cá nhân cũng chưa đủ cơ sở để khái quát thành một lí thuyết về hoạt động tạo ra nó. Vì thế, Amabile cho rằng một sản phẩm hay một hoạt động nào đó được gọi là sáng tạo không chỉ dựa vào đặc điểm của sản phẩm được tạo ra mà còn phải căn cứ vào cách thức, con đường làm ra sản phẩm đó như thế nào. Ông quan niệm hoạt động sáng tạo “phải có tính trực giác chứ không mang tính logic”. Như vậy, sáng tạo không chỉ là hoạt động hướng tới mục tiêu tạo ra cái mới, có tính hữu dụng, cần thiết cho hoạt động của con người mà còn phải là một hướng đi mới, con đường mới chưa được nghiên cứu, xác lập thành quy luật phổ biến.
Quan niệm của Amabile về cơ bản vẫn dựa trên tiêu chuẩn về “cái mới” nhưng ông đã cố gắng phân biệt hoạt động sáng tạo với các hoạt động mang tính logic. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuất phát từ khái niệm “sáng tạo” và các yếu tố có liên quan, các nhà nghiên cứu tâm lí học đã đưa ra định nghĩa về “năng lực sáng tạo”: “là khả năng tạo cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người”; “là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó”. Có thể nói, những quan niệm về năng lực sáng tạo nói trên đều thống nhất cho rằng đó là khả năng tạo ra cái mới có giá trị dựa trên những phẩm chất độc đáo của cá nhân như tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí. Những định nghĩa nói trên đã giúp chúng ta phân biệt năng lực sáng tạo với các năng lực khác của con người.
Tuy nhiên, để có cơ sở đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học nói chung và dạy học làm văn nói riêng, thiết nghĩ, chúng ta cần phải làm rõ hơn những thuộc tính, biểu hiện cụ thể của năng lực này. Căn cứ vào thành tựu nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo, chúng tôi cho rằng, năng lực sáng tạo được thể hiện ra ở những khả năng sau: 1. Khả năng phát hiện ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như mối liên hệ giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau trong đời sống. Người có năng lực sáng tạo thường có thói quen quan sát, so sánh và nhất là khả năng tưởng tượng, liên tưởng rất tốt.
“Tưởng tượng tự do giúp tạo ra những hình ảnh, cấu thành, thiết kế mới hữu ích mà trong điều kiện tư duy duy lí thông thường không có được”. Vì thế nên tưởng tượng trở thành một trong những yếu tố rất quan trọng trong tư duy sáng tạo của con người và là khởi nguồn cho mọi phát minh sau này. Nếu không tưởng tượng, không có mong muốn biết bay như loài chim thì chắc hẳn con người không thể thiết kế được máy bay như ngày hôm nay 2. Khả năng tìm tòi, phát hiện ra những vấn đề mới, những giải pháp mới dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm đã có hay những hạn chế, bất cập đang tồn tại hiện hữu.
Biểu hiện này thường xuất hiện ở những người có động cơ sáng tạo, có ý chí và nghị lực để thay đổi cuộc sống theo chiều hướng tốt đẹp hơn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho cá nhân hay cộng đồng và đặc biệt là phải có một nền tảng tri thức phong phú cũng như khả năng phân tích, suy luận đúng đắn. Nếu không thấy được những hạn chế trong việc thông tin, liên lạc, các nhà khoa học khó có thể phát minh được điện thoại di động. Điều này còn được thể hiện ở việc nâng cấp, cải tiến những công cụ, phương tiện khác theo hướng tiện dụng hơn 3. Khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau; phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau.
Cùng một vấn đề, một bài toán đặt ra, người có năng lực sáng tạo thường tìm kiếm, phát hiện được nhiều hướng giải quyết, nhiều ý tưởng khác nhau. Người có năng lực sáng tạo thường không dễ dàng chấp nhận những gì đã có mà luôn tìm tòi những cách giải quyết mới, biện pháp mới. Khả năng phát hiện ra những điều bất hợp lí, những bất ổn hay những quy luật phổ biến trong những hiện tượng, sự vật cụ thể dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm và khả năng trực giác cao của chủ thể. dạy học phát triển năng lực sáng tạo cũng nhằm phát triển các tiềm năng sáng tạo của học sinh, giúp các em trở thành những cá nhân sáng tạo.