CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tư duy phản biện 1. Khái niệm tư duy Theo Chu Cẩm Thơ [7]: “Tư duy là sản phẩm cao cấp của một vật chất hữu cơ đặc biệt, tức là bộ não, qua quá trình hoạt động của sự phản ánh hiện thực khách quan bằng biểu tượng khái niệm, phán đoán. Theo Trần Thúc Trình [8]: “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những bản chất, những mối quan hệ có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó chủ thể chưa biết”.
Theo Từ điển Giáo dục học [2]: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, cho phép phản ánh được bản chất và các mối quan hệ của sự vật khách quan mà con người không nhận biết được bằng tri giác và cảm giác trực tiếp hoặc bằng biểu tượng”. Dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về tư duy nhưng có thể thấy điểm chung của các phát biểu đó là: Tư duy là quá trình nhận thức đặc biệt chỉ có ở con người, phản ánh hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy là sản phẩm hoạt động xã hội. Tư duy bao hàm những quá trình nhận thức tiêu biểu như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề… Kết quả của tư duy là một ý nghĩa về sự vật, hiện tượng nào đó, và ở mức độ cao hơn, là một tư tưởng nào đó hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Tổng hợp các quan niệm trên, ta có thể hiểu: tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan.
Nó chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Kết quả của tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ. Tư duy phản biện Tư duy phản biện xuất phát từ thuật ngữ “Critial Thinking”. Nhận thức về tư duy phản biện đã qua một chặng đường phát triển lịch sử lâu dài, khởi 6 đầu từ sự tiếp cận của nhà triết học Hy Lạp cổ đại Socrates.
Ông đã nhận ra tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi sâu để điều tra một cách sâu sắc những suy nghĩ trước khi chúng ta chấp nhận ý kiến. Ông rất coi trọng việc tìm kiếm các bằng chứng, nghiên cứu tỉ mỉ các thông tin, các giả định. Ông chú trọng phân tích bản chất vấn đề và vạch ra các định hướng cho việc giải quyết và đưa ra quyết định. Mặc dù Socrates đã tiếp cận vấn đề tư duy phản biện từ cách đây hơn 2.000 năm nhưng định nghĩa của John Dewey – nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học người Mỹ - về tư duy phản biện mới được biết đến một cách rộng rãi.
Dewey gọi tư duy phản biện là “reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) và định nghĩa là: sự suy xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét đến những lý lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến. Như vậy, tư duy phản biện xuất phát từ khả năng suy luận và đánh giá suy luận một cách chủ động (tự đặt câu hỏi, tự tìm tòi các thông tin liên quan, v.), liên tục và cần xem xét kỹ lưỡng các thông tin trước khi đưa ra kết luận. Trên cơ sở đó hình thành niềm tin, nhận thức về tri thức. [20] Đã có rất nhiều nhà tâm lý học và nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khác nhau về thuật ngữ “tư duy phản biện”.
Tuy nhiên, các phát biểu này có khuynh hướng giống nhau về nội dung, chỉ có điều họ sử dụng theo những tên gọi khác như: suy luận, lôgic, quá trình nhận thức, v. Tư duy phản biện không phải chỉ là tích lũy thông tin. Người có tư duy phản biện có thể suy luận ra những hệ quả từ những gì họ biết và biết cách sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề, đồng thời tìm kiếm những nguồn thông tin liên quan để tăng hiểu biết của mình về vấn đề đó. Theo Nguyễn Phương Thảo [6]: “Tư duy phản biện là cách suy nghĩ có chủ định xây dựng và hoàn thiện với thái độ hoài nghi tích cực trong việc 7 phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra, nhằm đi đến một phán đoán hay kết luận vấn đề bằng những lập luận có căn cứ”.
Trong đó: + Suy nghĩ có chủ định xây dựng và hoàn thiện: là cách suy nghĩ có thiện chí. + Thái độ hoài nghi tích cực thể hiện ở chỗ: luôn đánh dấu hỏi trên mọi vấn đề, mọi khía cạnh, mọi giả thuyết.cho đến khi thu thập đủ chứng cứ để có thể rút ra kết luận chính xác. + Lập luận có căn cứ: là những lập luận dựa trên những tiền đề đúng, phù hợp với thực tiễn và hợp logic. + Có cách nhìn khác: thể hiện cách nhìn đa chiều đối với sự vật hiện tượng, xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, tiếp cận vấn đề từ nhiều quan điểm khác nhau.
+ Lập luận có căn cứ: là những lập luận dựa trên những tiền đề đúng, phù hợp với thực tiễn và hợp logic. Tuy có rất nhiều quan niệm về tư duy phản biện, nhưng trong luận văn này, chúng tôi quan niệm: Tư duy phản biện là một phạm trù chỉ sự suy luận theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết luận vấn đề. Hay nói cách khác thì tư duy phản biện chính là một quá trình tư duy nhằm chất vấn lại các giả định hay giả thiết nào đó. Người ta dùng nó để chứng minh một nhận định nào đó là đúng hay sai, từ đó đưa ra quyết định để giải quyết vấn đề.
Các nguyên tắc cơ bản và mức độ của tư duy phản biện. Nguyên tắc cơ bản của tư duy phản biện Để quá trình TDPB không bị rơi vào trạng thái: hoài nghi giáo điều, ngụy biện, thiên vị thì cần có một số nguyên tắc quan trọng như sau [2]: 8 - Thu thập đủ thông tin cần thiết. - Hiểu và xác định rõ tất cả các khái niệm liên quan. - Đưa ra những câu hỏi về nguồn gốc của các cơ sở lập luận.
- Đặt câu hỏi về các kết luận. - Chú ý các giả thiết. - Xem xét những nguyên nhân và hệ quả khác nhau của vấn đề. - Chú ý loại bỏ các tác nhân gây cản trở suy nghĩ.
- Hiểu được các giá trị riêng của bản thân. Các mức độ của tư duy phản biện. Mức độ Diễn giải Biểu hiện LCTA-0 - Học sinh không có - Học sinh không xác định rõ ràng các dữ khả năng phản biện kiện trong vấn đề. - Học sinh đã không - Học sinh không xác định chính xác và rõ thể giải quyết vấn đề.
ràng được các kiến thức trong điều kiện tiên quyết (định nghĩa/ định lý/ dữ liệu) có thể được sử dụng trong việc giải quyết vấn đề và cuối cùng các học sinh không thể lập kế hoạch dựa trên kiến thức điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề. - Việc giải quyết vấn đề (GQVĐ) của học 9 Mức độ Diễn giải Biểu hiện sinh được thực hiện dựa trên các khái niệm và ý tưởng trong các hình thức của các định nghĩa, khái niệm, định lý, nguyên tắc và thủ tục; việc thực hiện này không rõ ràng, không chính xác, không thích hợp và không có chiều sâu. Học sinh gặp khó khăn trong việc thực hiện giải quyết vấn đề. - Cách thức giải quyết các vấn đề cũng kém chính xác hơn và còn nhiều mơ hồ trong việc sử dụng các lập luận logic dùng trong đánh giá kiểm tra các bước để GQVĐ.
LCTA-1 - Học sinh có ít khả - Học sinh xác định rõ ràng sự thật rằng có năng phản biện một vấn đề, sự kiện nổi tiếng hoặc sự kiện trong câu hỏi. - Học sinh chưa thể hiện điều kiện tiên quyết của kiến thức (định nghĩa / định lý/ dữ liệu) chưa được chính xác và rõ ràng; đề ra kế hoạch giải quyết vấn đề chưa được chính xác. - Học sinh đang mơ hồ và còn thiếu chính xác trong việc đánh giá các lập luận logic được sử dụng trong việc kiểm tra các bước để giải quyết vấn đề. LCTA-2 - Học sinh có năng lực - Học sinh xác định rõ tình huống có vấn phản biện.
Nó có thể được nhìn thấy từ khả năng để xây dựng các vấn đề cơ bản với các 10 Mức độ Diễn giải Biểu hiện thông tin được biết đến vấn đề của HS. - Học sinh thể hiện điều kiện tiên quyết một cách rõ ràng và chính xác trong việc thể hiện kiến thức (định nghĩa / định lý / dữ liệu) có thể được sử dụng trong việc giải quyết các vấn đề, vì vậy mà cuối cùng các học sinh có thể làm cho một kế hoạch giải quyết vấn đề dựa trên các sự kiện nhất định, kiến thức điều kiện tiên quyết, thủ tục rõ ràng. - Học sinh có thể giải quyết vấn đề nhưng mỗi giai đoạn được thực hiện một cách ít rõ ràng. Ngay cả khi các bước thực hiện được đề ra rõ ràng thì các lập luận đưa ra cũng ít sâu sắc.
Tóm lại: - Học sinh có thể xác định một tình huống rằng tình huống có vấn đề hoặc là vấn đề hay được biết sự thật, chính xác và rõ ràng trong việc thể hiện những kiến thức tiên quyết, khả năng giải quyết các vấn đề trong lập kế hoạch, và có thể giải quyết vấn đề nhưng ít cẩn thận trong từng bước thực hiện. Ngoài ra, học sinh cũng không thể phân biệt giữa các kết luận dựa trên logic hợp lệ, khi kiểm tra các bước công việc. 11 Mức độ Diễn giải Biểu hiện LCTA-3 - Học sinh có năng lựcHọc sinh xác định rõ tình huống có vấn đề. phản biện tốt.
Học sinh đã có thể giải quyết các vấn đề một cách thích hợp và có khả năng phân biệt được kết luận với việc xem xét hợp lý. Khi giải quyết vấn đề, học sinh biết sử dụng các công thức GQVĐ một cách thích hợp; trong quá trình tính toán, có thể thực hiện các phép tính một cách nhanh chóng và chính xác. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi vận dụng cách chia các mức độ năng lực tư duy phản biện theo Rasiman để quan sát, đánh giá khả năng tư duy phản biện dựa vào việc giải quyết vấn đề toán học của học sinh.