Tổng quan nghiên cứu
Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam hiện đại, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại một di sản đồ sộ với hơn 600 tác phẩm, trong đó có hơn 400 ca khúc thuộc thể loại trữ tình, chiếm khoảng 70% tổng số sáng tác của ông. Tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, chương trình đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc được thiết kế với thời lượng 4 học phần tương đương 7 đơn vị học trình, gồm 210 tiết học (105 tiết trên lớp và 105 tiết tự học) trải dài suốt 4 năm học. Mặc dù các tác phẩm của Trịnh Công Sơn có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống văn hóa, việc đưa những ca khúc này vào giảng dạy chính khóa vẫn gặp nhiều rào cản do thiếu phương pháp sư phạm chuyên biệt, giúp sinh viên dung hòa giữa kỹ thuật thanh nhạc chuẩn mực và phong cách biểu cảm trữ tình sâu lắng.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết khoảng cách giữa lý thuyết kỹ thuật thanh nhạc thính phòng phương Tây và thực tiễn xử lý ca từ giàu tính triết lý, hình tượng trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Mục tiêu cụ thể là khảo sát toàn diện thực trạng dạy học thanh nhạc tại hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, phân tích đặc thù giọng hát của sinh viên lứa tuổi 18 đến 20, từ đó xây dựng hệ thống biện pháp dạy học tích hợp giúp sinh viên làm chủ kỹ thuật hơi thở, nhả chữ và truyền tải trọn vẹn tinh thần tác phẩm. Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng tỷ lệ sinh viên làm chủ kỹ thuật thể hiện phong cách trữ tình lên trên 85%, đồng thời giảm tỷ lệ mắc lỗi phát âm và nén hơi sai quy cách từ 60% xuống dưới 15%, tạo nền tảng vững chắc cho năng lực sư phạm của người giáo viên âm nhạc tương lai.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết thanh nhạc cổ điển phương Tây (Bel Canto) kết hợp với các công trình nghiên cứu về phương pháp sư phạm thanh nhạc và đặc điểm phát âm tiếng Việt. Khung lý thuyết dựa trên 2 nền tảng học thuật cốt lõi:
Thứ nhất là lý thuyết kỹ thuật thanh nhạc của tác giả Nguyễn Trung Kiên (năm 2001) và nghệ sĩ Hồ Mộ La (năm 2008), tập trung vào cơ chế điều tiết cột hơi ngực dưới kết hợp cơ hoành, kỹ thuật hát liền tiếng (legato), hát âm nảy (staccato), chuyển giọng (passage) và xử lý sắc thái to nhỏ (forte, piano, decrescendo).
Thứ hai là lý thuyết về ngữ âm học ứng dụng trong ca hát của tác giả Trần Ngọc Lan (năm 2011), làm sáng tỏ quy luật đóng mở khẩu hình và nhả chữ đối với ngôn ngữ đơn âm, đa thanh như tiếng Việt.
Song song đó, nghiên cứu tích hợp lý luận dạy học âm nhạc của tác giả Ngô Thị Nam (năm 2001, 2004, 2008) để xây dựng tiến trình sư phạm phù hợp với môi trường đào tạo giáo viên. Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: nghệ thuật thanh nhạc, ca khúc trữ tình, cơ chế cộng minh khoang vang, vị trí âm thanh và phong cách âm nhạc Trịnh Công Sơn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm: chương trình đào tạo 4 học phần thanh nhạc, hồ sơ kết quả học tập của 120 sinh viên thuộc các khóa đào tạo, cùng tư liệu dự giờ thăm lớp của 10 giảng viên chuyên ngành tại khoa Thanh nhạc.
Về quy mô mẫu, tác giả tiến hành chọn mẫu có chủ đích với 40 sinh viên hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc có chất giọng nữ trung và nữ trầm, chia đều thành nhóm đối chứng (20 sinh viên) và nhóm thực nghiệm (20 sinh viên). Lý do lựa chọn nhóm mẫu này vì ca khúc trữ tình Trịnh Công Sơn có âm vực trung bình, đòi hỏi âm sắc dày dặn, ấm áp và chiều sâu nội tâm, hoàn toàn tương thích với đặc tính sinh lý giọng nữ trung và nữ trầm ở lứa tuổi 18 đến 20.
Phương pháp phân tích kết hợp giữa định tính và định lượng. Phương pháp lý thuyết tập trung phân tích cấu trúc giai điệu, tiết tấu (Slow, Boston, Blues) và ngữ nghĩa ca từ trong các tác phẩm tiêu biểu như Hạ trắng, Dấu chân địa đàng, Huyền thoại Mẹ. Phương pháp thực tiễn bao gồm điều tra khảo sát, quan sát sư phạm và thực nghiệm giảng dạy theo quy trình 4 giai đoạn can thiệp. Việc lựa chọn phương pháp thực nghiệm đối chứng là bắt buộc nhằm đo lường chính xác sự tiến bộ của sinh viên về độ chuẩn cao độ, kỹ năng điều tiết hơi thở và khả năng biểu cảm trước và sau khi áp dụng giải pháp sư phạm mới trong mốc thời gian 6 tháng của năm học 2016 - 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực trạng và phân tích số liệu thực nghiệm đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, trước khi áp dụng biện pháp mới, có tới 65% sinh viên mắc lỗi lấy hơi nông ở phần ngực trên, dẫn đến hiện tượng so vai, rụt cổ và hụt hơi ở những câu hát ngân dài. Bên cạnh đó, 58% sinh viên mở khẩu hình sai quy cách (mở theo chiều ngang hoặc gồng cứng hàm dưới), làm âm thanh bị bẹt và rít ở kẽ răng.
Thứ hai, khoảng 70% sinh viên chỉ tập trung vào việc đọc đúng nốt nhạc mà hoàn toàn bỏ qua việc tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác và chiều sâu triết lý ca từ. Điều này khiến phần trình diễn bài hát trở nên khô cứng, thiếu sự rung cảm nghệ thuật và không thể hiện được chất thơ đặc trưng của nhạc Trịnh.
Thứ ba, sau 6 tháng thực nghiệm sư phạm với giáo trình bài tập cải tiến, nhóm thực nghiệm ghi nhận sự bứt phá vượt bậc: tỷ lệ sinh viên đạt điểm giỏi và xuất sắc trong xử lý hơi thở và vị trí âm thanh tăng từ 20% lên 75%, cao hơn 45% so với nhóm đối chứng chỉ đạt mức 30%.
Thứ tư, tỷ lệ sinh viên hát chênh phô cao độ ở các quãng nửa cung giảm mạnh từ 35% xuống chỉ còn 5% ở nhóm thực nghiệm, đồng thời 90% sinh viên nhóm này đã biết cách vận dụng kỹ thuật pha giọng mềm mại khi lên nốt cao thay vì gằn cổ như trước đây.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của các hạn chế ban đầu bắt nguồn từ việc sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai chưa từng trải qua đào tạo thanh nhạc bài bản trước khi nhập học, hầu hết hát theo thói quen tự nhiên. Hơn nữa, phương pháp giảng dạy truyền thống của giảng viên thường chỉ tập trung chỉnh sửa kỹ thuật cơ học từng câu nốt mà chưa chú trọng phân tích nội dung văn học và nghệ thuật xử lý ca từ tiếng Việt.
Kết quả thực nghiệm khẳng định tính đúng đắn của luận điểm từ các chuyên gia thanh nhạc: việc kết hợp kỹ thuật thở bụng sâu với mở khẩu hình dọc theo lối Bel Canto giúp giải phóng hoàn toàn sức căng cơ thanh quản. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây về giảng dạy thanh nhạc tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, giải pháp tích hợp phân tích ca từ vào bài tập luyện thanh chuyên sâu mang lại hiệu quả vượt trội, giúp sinh viên nâng cao đồng thời cả kỹ thuật lẫn cảm xúc.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ tiến bộ ở 5 tiêu chí: điều tiết hơi thở, giải phóng khẩu hình, định vị âm thanh, kiểm soát sắc thái và phong cách biểu cảm. Đồng thời, bảng số liệu tổng hợp điểm thi kết thúc học phần cho thấy điểm trung bình của nhóm thực nghiệm đạt 8.4 điểm trên thang điểm 10, chênh lệch cao hơn 1.6 điểm so với điểm trung bình 6.8 của nhóm đối chứng, minh chứng tính hiệu quả thực tế của đề tài.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao chất lượng đào tạo thanh nhạc đối với dòng ca khúc trữ tình Trịnh Công Sơn, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, đối với giảng viên thanh nhạc: Triển khai quy trình dạy học 4 bước chuẩn hóa gồm: (1) Phân tích hoàn cảnh sáng tác và cấu trúc ca từ; (2) Luyện thanh với các mẫu âm chuyên biệt cho nguyên âm tiếng Việt; (3) Hướng dẫn kỹ thuật thở ngực dưới - bụng và đánh dấu điểm lấy hơi; (4) Hoàn thiện sắc thái và kỹ năng làm chủ sân khấu. Giảng viên cần hoàn thành áp dụng quy trình này ngay trong học kỳ 1 năm học 2017 - 2018 nhằm đạt mục tiêu 100% sinh viên nắm vững phương pháp biểu đạt cảm xúc.
Thứ hai, đối với sinh viên Sư phạm Âm nhạc: Duy trì nghiêm ngặt thời lượng tự luyện tập tối thiểu 105 tiết mỗi học phần. Thực hiện đều đặn bài tập thở 4 bước (cúi gập người kiểm soát cơ hoành, hít sâu giữ hơi 2 giây, xì hơi qua kẽ răng và từ từ đứng thẳng) nhằm tăng dung tích phổi thêm 20% đến 30% sau 3 tháng luyện tập.
Thứ ba, đối với tổ bộ môn và Khoa Thanh nhạc: Biên soạn và bổ sung tuyển tập 20 ca khúc trữ tình tiêu biểu của Trịnh Công Sơn (phù hợp giọng nữ trung và nữ trầm như Huyền thoại Mẹ, Diễm xưa, Một cõi đi về) vào danh mục tác phẩm thi học phần trước quý 2 năm 2018.
Thứ tư, đối với Ban Giám hiệu nhà trường: Nâng cấp 100% trang thiết bị phòng học chuyên ngành với đàn piano chuẩn âm, đồng thời trang bị hệ thống gương lớn và thiết bị ghi âm kỹ thuật số tại phòng biểu diễn trong năm 2018 để phục vụ việc tự quan sát khẩu hình và đánh giá định kỳ 2 tuần một lần của sinh viên.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Nhóm thứ nhất là giảng viên thanh nhạc tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm nghệ thuật trên toàn quốc. Giảng viên có thể khai thác hệ thống mẫu luyện thanh và quy trình giảng dạy ca khúc trữ tình để ứng dụng trực tiếp vào giáo án giảng dạy 210 tiết học chính khóa.
Nhóm thứ hai là sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc và Thanh nhạc chuyên nghiệp. Luận văn cung cấp cẩm nang chi tiết về các bài tập khắc phục tật hát bẹt tiếng, gằn cổ, hụt hơi, giúp sinh viên tự tin thể hiện các tác phẩm thi học kỳ và tốt nghiệp đạt kết quả cao.
Nhóm thứ ba là giáo viên âm nhạc tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Giáo viên có thể vận dụng phương pháp phân tích ca từ và kỹ năng truyền cảm hứng vào các tiết học hát, hoạt động ngoại khóa âm nhạc học đường và hội diễn văn nghệ quần chúng.
Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu âm nhạc và người yêu nghệ thuật Trịnh Công Sơn. Tài liệu cung cấp góc nhìn học thuật chuyên sâu về cấu trúc âm nhạc, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thi ca và giá trị nhân văn trong hơn 400 tình khúc bất hủ của người nhạc sĩ tài hoa.
Câu hỏi thường gặp
Ca khúc trữ tình Trịnh Công Sơn phù hợp nhất với những loại giọng nào trong thanh nhạc?
Các ca khúc trữ tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thường có âm vực vừa phải, giai điệu chậm rãi (điệu Slow, Boston) nên đặc biệt phù hợp với giọng nữ trung (mezzo soprano) và nữ trầm (alto). Khảo sát thực tế cho thấy hơn 75% sinh viên thuộc nhóm giọng này thể hiện thành công chiều sâu tự sự của tác phẩm.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa kỹ thuật hát nhạc Trịnh và hát opera thính phòng là gì?
Hát thính phòng đòi hỏi mở khẩu hình lớn, âm lượng vang rền (forte) và cộng minh khoang trán tối đa. Ngược lại, hát nhạc Trịnh đòi hỏi sự mộc mạc, nhả chữ khép mở tự nhiên theo dấu thanh tiếng Việt, xử lý sắc thái nhỏ dần (decrescendo) tinh tế để làm nổi bật ca từ giàu tính triết lý.
Làm thế nào để khắc phục tật lấy hơi nông và so vai khi hát ca khúc trữ tình?
Sinh viên cần thực hiện bài tập cúi gập người, đặt hai tay vào vùng hông sườn để cảm nhận sự giãn nở của cơ hoành khi hít vào bằng mũi. Duy trì luyện tập bài tập này 15 phút mỗi ngày sẽ giúp định hình phản xạ thở ngực dưới - bụng, loại bỏ hoàn toàn tật so vai sau 4 tuần.
Tại sao phải phân tích ca từ trước khi tiến hành tập hát các tác phẩm của Trịnh Công Sơn?
Lời ca trong nhạc Trịnh mang đậm chất thơ, ẩn dụ và siêu thực với các chủ đề Thân phận - Quê hương - Tình yêu. Việc giải mã tầng nghĩa ca từ giúp sinh viên hiểu rõ thông điệp nhân văn, từ đó truyền tải cảm xúc chân thành, tránh tình trạng hát đúng nốt nhưng vô hồn.
Thời lượng phân bổ 210 tiết của môn Thanh nhạc hệ Sư phạm Âm nhạc được tổ chức như thế nào?
Chương trình được chia đều thành 105 tiết học trực tiếp với giảng viên trên lớp (định mức 2 sinh viên trên 1 tiết mỗi tuần) và 105 tiết tự rèn luyện tại nhà có sự kiểm tra, đánh giá định kỳ qua các bài kiểm tra giữa kỳ và thi kết thúc học phần.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kỹ thuật thanh nhạc Bel Canto và phương pháp thể hiện ca khúc trữ tình Trịnh Công Sơn trong đào tạo giáo viên âm nhạc.
- Đánh giá chính xác thực trạng dạy học thanh nhạc tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, chỉ rõ các lỗi kỹ thuật phổ biến ở 65% sinh viên lứa tuổi 18 đến 20.
- Xây dựng thành công hệ thống bài tập chuyên biệt tích hợp giữa điều tiết hơi thở ngực - bụng, kỹ thuật nhả chữ tiếng Việt và phương pháp phân tích chiều sâu ca từ.
- Kiểm chứng hiệu quả vượt trội qua thực nghiệm sư phạm với tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi tăng lên 75% và điểm trung bình tăng 1.6 điểm so với phương pháp cũ.
- Định hình giải pháp toàn diện từ đổi mới giáo trình, chuẩn hóa quy trình giảng dạy 4 bước đến nâng cấp cơ sở vật chất phòng học piano trong giai đoạn 2017 - 2020.
Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một giải pháp sư phạm hoàn chỉnh, gắn kết chặt chẽ giữa kỹ thuật thanh nhạc bác học và tâm hồn âm nhạc dân tộc. Các cơ sở đào tạo sư phạm nghệ thuật và giảng viên thanh nhạc nên ứng dụng ngay quy trình này vào giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo thế hệ giáo viên âm nhạc tương lai.