mở đầu văn học dân gian thường bắt đầu câu chuyện theo trình tự tự nhiên, nhân quả. Văn học hiện đại có thể bắt đầu từ bất kỳ điểm nhìn nào theo ý đồ của tác giả. Sau khi xác định điểm nhìn thì văn bản diễn ra theo ngôi thứ thích hợp với giọng điệu thân mật hay nghiêm trang tùy quan hệ của người kể với nhân vật. Trong thơ trữ tình điểm nhìn còn tuân theo nguyên tắc âm nhạc.
Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại, đặc biệt với thơ luật cần phải tuân theo kết cấu định sẵn. - Chất thơ trong thơ trữ tình 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà phê bình Trung Quốc đời Thanh là Diệp Tiếp trong sách Nguyên Thi có nói: “Cái lí có thể nói, ai cũng nói được, đâu cần nhà thơ nói lên. Cái việc có thể chứng kiến, ai cũng kể lại được, đâu cần nhà thơ kể lại. Phải có những cái lí không thể nói, có những việc không thể kể, khi gặp thì chỉ hiểu ngầm qua hình dáng có ý nghĩa, mà lí và việc cũng đã tường như thế.” Đó chính là chất thơ của đời sống.
Trong tác phẩm thơ chất thơ là một điểm đặc biệt. Chất thơ tạo nên nét khác biệt và độc đáo của thơ mà không có một môn nghệ thuật nào có thể có được. Những sự việc của cuộc sống không phải được viết lại trong thơ mà qua những sự việc, hiện tượng của đời sống để nói những suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, thái độ của mình. Nhà thơ Đỗ Phủ viết về cảnh gió thu tàn phá những ngôi nhà của dân nghèo.
Cảnh gió rét ấy ở đâu cũng thế song khi đưa vào thơ tác giả muốn thể hiện nỗi cảm thông với những người dân nghèo và ước mơ nhân văn của nhà thơ. Người xưa cũng thường nói chất thơ nằm ở ngoài lời. Thơ không nói những điều nó viết ra mà nói những chỗ trống, chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời. Ví như bài Bánh trôi nước không phải tác giả miêu tả chiếc bánh trôi đẹp như thế nào, nấu ra sao mà muốn ca ngợi phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội bất công.
Nếu đem thuật lại Hồ Xuân Hương kể gì thì không còn là chất thơ. Ý nghĩa của bài thơ là điều cảm được qua lời thơ nhưng không phải mặt ư nghĩa của câu thơ. Nhà thơ Tố Hữu cũng nói: “Thơ là cái đó sự im lặng giữa các từ người đọc có thể cảm nhận theo cách riêng của mình tạo nên sự đa dạng và tinh tế của tác phẩm”. Thơ là cái khó nắm bắt vừa mơ vừa thực, khó xác định.Những hình ảnh muôn màu hiện ra trên trang giấy trắng sinh động qua cảm nhận của tâm hồn mỗi con người.
Màu sắc đa dạng và sinh động hiện ra trên trang giấy trên trang giấy trắng qua cảm nhận của mỗi tâm hồn. Đó là điều kì diệu của ngôn ngữ và sự phong phú của tâm hồn. Trong thõ có ý nghĩa mặt chữ, ý nghĩa của logic, ý nghĩa trong hình tượng, nhưng đó không phải là cái ý nghĩa có tính thơ. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cái ý nghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh do chính lời và hình ảnh gợi lên.
Nhà Mỹ học Pháp viết: “Cái giá trị ý niệm hàng đầu, cơ bản nhất của thơ là cái ý nghĩa mang tính thơ. Bởi vì ý nghĩa mang tính thơ gần gũi nhất với cội nguồn sáng tạo- một thứ ý nghĩa trong bầu trời đêm của trực giác phi khái niệm biểu thị trực tiếp vào ý thức chủ quan của nhà thơ.” - Chi tiết nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật được tạo nên bời nhiều chi tiết khác nhau. Những đối tượng miêu tả như, cảnh vật, môi trường, con người…tạo nên bằng hình dáng đường nét, âm thanh mà tác giả chọn lọc cho những hình ảnh đó cho là cần thiết, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà thể hiện ý định của tác giả. Chi tiết là những bộ phận nhỏ tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết hợp lại nó biểu thị ý nghĩa của tác phẩm, tạo nên giá trị của tác phẩm đối với đời sống tinh thần của con người.
Chi tiết chính là điểm nhìn, tư thế, thể hiện quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người, thể hiện tâm hồn của tác giả đối với đối tượng đó. Thi pháp học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của thế giới nghệ thuật. Qua nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà thơ, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó, một phong cách riêng của tác giả, thấy sự quan tâm và rung cảm trước sự vật, hiện tượng đó của người viết.Chi tiết nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố như màu sắc, âm thanh, đường nét, chất liệu,.tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau về chất. Chi tiết nghệ thuật biểu hiện phẩm chất thẩm mỹ của thế giới nghệ thuật và cũng thể hiện niềm rung cảm của tác giả với thiên nhiên và cuộc đời.
- Biểu tượng, ý tượng trong thơ Thơ biểu hiện bằng biểu tượng mang nghĩa, các ý tượng hình ảnh có ngụ ý. Hegel nói: “Thơ cũng như nhạc đều xây dựng trên nguyên tắc dùng nội cảm để tri giác nội cảm, tức là một nguyên tắc không có trong kiến trúc, trong điêu khắc và 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội họa. Hơn thế nữa thơ còn mở rộng đến mức độ dùng các biểu tượng, các trực giác và các tình cảm bên trong đặng dựng lên một thế giới khách quan”. Như vậy, thơ là nghệ thuật của biểu tượng tạo nên giá trị họa trong thơ.
Đặc điểm của biểu tượng trong thơ là thường gián đoạn không liên tục, có nhiều khoảng trống, khoảng trắng như trong tranh thủy mặc buộc người đọc phải suy đoán, phải liên tưởng, tưởng tượng không có một khuôn mẫu cố định. Biểu tượng cho phép thơ không phải kể lể, không chạy theo tính liên tục bề ngoài mà người đọc có thể hiểu tác phẩm qua những hình ảnh nổi bật nhất, cô đọng nhất, giàu hàm ý nhất của đời sống để thể hiện được ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm. Trong thơ cổ biểu tượng thường là: nhật, nguyệt, tùng, cúc, trúc, mai…Mỗi nhà thơ cũng có những biểu tượng được lặp lại nhưng có những biểu tượng không lặp lại. Cùng một biểu tượng nhưng có thể ý nghĩa, cảm xúc mà biểu tượng mang lại khác nhau.
Các biểu tượng trong thơ nảy sinh nhờ sức liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo mạnh mẽ của nhà thơ và người đọc có thể cảm nhận được cảm xúc của nhà thơ qua biểu tượng của tác phẩm. Thi pháp thơ Nôm Đường luật Trung Đại Văn học Trung Đại Việt Nam tình từ thế ký X đến hết thế kỷ XIX đây là giai đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc. Văn học thời kỳ này phát triển rực rỡ hình thành các truyền thống lớn về tư tưởng và nghệ thuật. Trong chương trình Ngữ Văn THCS, Văn học Trung Ðại chiếm một phần không nhỏ.
Việc dạy học Văn học Trung Ðại để học sinh có thể cảm thụ được cái hay, cái đẹp của một tác phẩm trung đại không đễ dàng. Chính vì vậy để hiêu tác phẩm văn học trung đại chúng ta phải tiếp cận từ thi pháp văn học trung đại. Văn hoc Trung Ðại có thi pháp riêng của nó. Việc nắm vững những đặc điểm của văn học trung đại sẽ giúp chúng ta chiếm lĩnh tác phẩm mà còn giúp ta sáng tỏ được đặc điểm của văn học cổ đại và hiện đại trong thế so sánh.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Tính ước lệ Văn học mọi thời kỳ đều sử dụng tính ước lệ nhưng chỉ có thời kỳ trung đaị ước lệ mới được sử dụng một cách phổ biến, phức tạp và nghiêm ngặt nên được coi là một đặc trưng về mặt thi pháp. Ước lệ là một quy ước của cộng đồng người. Họ đặt ra những biểu hiện riêng để thay thế cho các sự vật, hiên tượng trong cuộc sống thực. Trong nghệ thuật đó là quy ước chung của nghệ sĩ và độc giả.
Đó là khuynh hướng lý tưởng hóa để tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật được cách điệu hóa, thiên nhiên chính là chuẩn mực để đánh giá cái đẹp. Vì vậy, nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con người tôn vinh vẻ đẹp của con người. Con người đẹp phải là người: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, gót sen…Người đẹp thì phải đẹp đến nỗi chim sa cá lặn, nghiêng nước nghiêng thành.
Cây cối trong văn chương cũng phải sang trọng như mai, lan, cúc, tùng, liễu…bởi chúng là biểu tượng để chỉ những phẩm chất, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu, nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục, nói đến vật thì thường nhắc đến những con vật: yến oanh, loan phượng, uyên ương.2Tính quy phạm Quan niệm của người trung đại về thời gian là tuần hoàn, vì thế người ta hết sức coi trọng qua khứ, coi trọng sự khởi đầu, coi trọng người già. Theo quan niệm của họ thời gian đi hết một vòng lại quay về gốc. Chuẩn mực của cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá khứ. Chính vì quan niệm đó nên trong văn học trung đại thường xuyên xuất hiện những điển cố, điển tích.Văn chương thể hiện tinh thần sung cổ, suy tôn Thánh hiền tạo nên tính quy phạm trong văn học.
Việc sử dụng những điển tích trên cũng nhằm mục đích lấy xưa để nói nay, dùng người cũ việc cũ để nói việc mới, chuyện nay. Khi sáng tác các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt truyện để tạo một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu có sẵn thành công thức.3 Tính phi ngã 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời phong kiến ý thức cá nhân chưa phát triển. Con người luôn đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp.
Trong xã hội ấy người có văn hóa là người biết thu nhỏ biết hạ thấp cái tôi cá nhân. Chính vì thế văn học có tính phi ngã không có dấu ấn cá nhân. Nhà văn hiếm khi xưng “tôi”, “ta”, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Các nhà văn nhà thơ thường dùng những công thức có sẵn để sáng tác.
Thiên nhiên trong thơ văn trung đại Thiên nhiên là một yếu tố đóng vai trò quan trọng góp phần vào việc thể hiện tư tưởng chủ đề của văn bản.