mở đầu bằng nội dung Hát, sau đó mới đến các nội dung khác. Các chủ đề được liên kết với nhau thông qua việc hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất và năng lực được quy định trong Chương trình tổng thể và Chương trình môn Âm nhạc. Nội dung và hình thức trình bày Nội dung SGK Âm nhạc ¡ thể hiện đúng và đầy đủ nội dung Chương trình môn Âm nhạc, gồm có: Hát, Nghe nhạc, Đọc nhạc, Nhạc cụ (chơi tiết tấu), Thường thức am nhac (tim hiéu nhac cu, thường thức âm nhạc). Các nội dung bảo đảm tính cơ bản, khoa học, thiết thực, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Bên cạnh những hoạt động học tập theo từng nội dung, SGK Âm nhạc I còn xây dựng hoạt động trải nghiệm và khám phá, nhằm tạo được cảm xúc, niềm vui và hứng thú học tập; góp phan hình thành và phát triển năng lực âm nhạc cho HS. — Nội dung Hát trong SGK Âm nhạc ¡ vừa sử dụng một số bài hát trong chương trình hiện hành như /ƒ cây xanh (Dân ca Nam Bộ), Mời bạn vui múa ca (Phạm Tuyên), vừa bổ sung, thay thế những bài hát khác nhằm tạo nên sự mới mẻ và hứng thú cho HS. ~— Nội dung Nghe nhạc trong SGK Âm nhạc 1 sử dụng nghe một số bản nhạc không lời và bài hát phù hợp với độ tuổi HS lớp 1. ~ Nội dung Đọc nhạc trong SGK /Âm nhạc 1 đưa ra những yêu cầu luyện tập đọc nhạc từ ít nốt đến nhiều nót.
Đầu tiên là hai nốt Mi và Son ở quãng § thứ nhất (đây là hai nốt có độ cao trung bình so với giọng của trẻ em từ 6 đến 7 tuổi và hai nốt này còn tạo thành quãng 3 thứ là quãng thuận, dễ đọc). Tiếp theo là ba nốt Mi, Son, La và tiếp nữa là bốn nốt Đô, Mi, Son, La. Đây là nội dung có tính mở để GV được chủ động lựa chọn những bài tập phù hợp với khả năng của HS. Ví dụ, đọc nhạc có ba nốt Mi, Son, La, GV có thể chỉ chọn một hoặc hai trong số những bài tập sau, cũng có thẻ chọn cả bốn bài tập hoặc tạo ra những bài tập khác.
Bài I Bài 2 Bài 3 Bài 4 ~— Nội dung Nhạc cụ trong SGK Âm nhạc 1 chọn những bài tập tiết tấu ngắn gon, đơn giản. Những bài tập được chơi bằng nhạc cụ gõ (rồng nhỏ, thanh phách, trai-en-gô, tem-bơ-rin) hoặc được chơi bằng động tác tay, chân (vỗ tay, giậm chân, vỗ tay lên đài),. Những bài tập tiết tấu mang tính ứng dụng, dé HS cé thé chơi nhạc cụ đệm cho bài hát vừa học trong chủ đề. Yêu cầu tích hợp trong SGK được thể hiện qua nhiều nội dung và hoạt động.
Vi dụ: khi học hát, HS dùng nhạc cụ để gõ đệm; ngược lại, khi học nhạc cụ, HS lại đệm cho bài hát; khi nghe nhạc có lời, HS có thể hát lại những câu các em nhớ; vận động theo tiếng đàn là sự kết hợp giữa nghe nhạc và vận động. Về hình thức trình bày, SGK sử dụng một số logo đi kèm với các nội dung: Hát, Nghe nhạc, Đọc nhạc, Nhạc cụ, Thường thức âm nhạc. SGK vẽ nhiều hình ảnh minh hoạ sinh động đề hỗ trợ HS thực hành và có thể tự học. Thiết bị dạy học GV cần hướng dẫn HS sử dụng những loại nhạc cụ gõ, như: trống nhỏ, thanh phách, trai-en-gô, tem-bơ-rin.
Đây là những nhạc cụ được quy định trong chương trình môn Âm nhạc. Ngoài ra, có thể hướng dẫn HS chơi nhạc cụ gõ tự làm từ những mau gỗ, vỏ quả dừa khô,. Nội dung nghe nhạc cần có máy nghe và loa, chất lượng máy và loa cần ở mức trung bình trở lên, để HS được nghe những bài hát, bản nhạc một cách rõ ràng, âm thanh trung thực, dé nghe. Nếu âm thanh không đủ chất lượng sẽ làm HS mat tập trung, giảm hứng thú, giờ học sẽ kém hiệu quả.
Phương pháp dạy học 4. Hát Hát là nội dung quan trọng trong chương trình môn Âm nhạc, hầu hết các tiết học âm nhạc đều có hoạt động ca hát. Khi dạy hát, GV cần chú ý đến cách hát của minh sao cho giọng hát vừa hay vừa chuyền tải được thông điệp của bài hát một cách rõ ràng. Có như vậy mới truyền được cảm hứng cho HS khi học bài hát.
* Một số yêu câu về hát ~ Tư thế hát (đứng hoặc ngồi) ngay ngắn và tự nhiên, dé có giọng hát linh hoạt. — Hát đúng cao độ, trường độ, sắc thái. — Hát rõ lời và thuộc lời đề truyền đạt rõ ràng nội dung của bài hát đến người nghe. — Biết thở và lấy hơi đúng cách, duy trì được tốc độ Ôn định.
~ Hát có cảm xúc, biết điều chỉnh giọng hát dé tạo nên sự hài hoà. * Quy trình dạy học hát — Bước l: Giới thiệu bài hát. — Bước 2: Đọc lời ca. ~— Bước 3: Nghe hát mẫu.
— Bước 4: Khởi động giọng. — Bước 5: Tập hát từng câu. — Bước 6: Hát cả bài. ~ Bước 7: Luyện tập và biểu diễn.
Khi ứng dụng quy trình, có thể linh hoạt thay đổi trình tự 4 bước đầu tiên cho phù hợp với thực tiên dạy học. Có thê cho HS nghe bài hát ngay bước đâu tiên, có thê không thực hiện bước 4 nêu đã khởi động giờ học băng một hoạt động khác như hát, đọc nhạc,. Việc ứng dụng linh hoạt quy trình sẽ làm cho các tiết học hát không rập khuôn khiến HS cảm thấy nhàm chán: HS lớp 1 mới học đánh vần nên chưa tự đọc được, vì vậy ở bước đọc lời ca, GV cần đọc mẫu từng câu ngắn từ một đến hai lần để các em nghe và đọc theo. Ở bước tập hát từng câu, GV cần kết hợp giữa việc hát mẫu và đàn giai điệu vì cả hai hoạt động này đều rất cần thiết.
Việc nghe hát mẫu sẽ giúp HS nhận biết được cách phát âm, cách lấy hơi và sự biểu cảm phù hợp, còn việc nghe đàn giai điệu sẽ hỗ trợ HS hát đúng nhạc. Khi dạy những bài hát có nhiều tiếng hát luyến láy như bài dân ca, GV nên tăng cường hát mẫu nhiều hơn. * Cách ôn tập bài hát Sau khi day bài hát, có thể vẫn còn HS chưa hát đúng giai điệu, chưa thuộc lời ca, chưa cảm nhận về vẻ đẹp của bài hát, vì vậy hoạt động ôn tập bài hát nhằm giải quyết những tôn tại đó. Hoạt động ôn tập bài hát sẽ giúp HS hát thuộc lời ca, hát đúng hơn, hát hay hơn và yêu thích bài hát hơn.
Các em được củng cố kiến thức đã học, luyện tập các kĩ năng ca hát, có điều kiện trình bày bài hát. Vì vậy, thêm sự tự tin, có cảm thụ âm nhạc tốt hơn, phát huy được tính tích cực và tư duy sáng tạo. Hoạt động ôn tập bài hát không cần thực hiện theo một trình tự cố định nào, những gợi ý dưới đây minh hoạ cho việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực: — Nghe lại bài hát để nhớ lại giai điệu và lời ca. — On lai tên bài hát, tác giả, nội dung (nên đùng tranh minh hoa).
~ Sửa những chỗ hát sai (nếu có) và tập thẻ hiện sắc thái. 10 ~ Hát kết hợp gõ đệm, vận động theo nhạc hoặc nhảy múa. — Thi đua giữa các tổ, nhóm. ~— Luyện tập các cách hát tập thẻ: hát hoà giọng (đông ca), hát nối tiếp, hát đối đáp, hát có lĩnh xướng.
— Trình bày hoặc biểu diễn bài hát theo các hình thức đơn ca, song ca, tốp ca, đông ca. — Hát kết hợp trò chơi, ví dụ: chuyền đồ vật, hát bằng các nguyên âm, hát theo hiệu lệnh tay của GV,. ~— Nghe giai điệu (hoặc tiết tấu) của một câu hát, nhận biết và hát câu hát đó. — Bồ sung lời ca vào chỗ trống.
— Hát với cường độ khác nhau (nhỏ, hơi nhỏ, trung bình, hơi to, to). — Hat với tốc độ khác nhau (chậm, hơi chậm, trung bình, hơi nhanh, nhanh). Nghe nhạc Học Âm nhạc có thể so sánh với việc học một ngôn ngữ của nhân loại. Nghe, nói, đọc, viết được xem là những kĩ năng cơ bản trong việc học ngôn ngữ.
Vì vậy, nghe nhạc, hát, đọc nhạc và ghi chép nhạc cũng mang những đặc trưng tương ứng với việc học ngôn ngữ. Tuy nhiên, nghe nhạc còn có những cung bậc của tình cảm thông qua sự cảm thụ của từng cá nhân. Sự cảm thụ đó mang lại những rung động trong tâm hôn và có thể bộc lộ ra bên ngoài của mỗi con người từ ánh mắt, nét mặt, thần sắc, cho đến các cử chỉ, vận động của cơ thể. * Một số yêu cầu về nghe nhạc — Biết nghe nhạc kết hợp trò chơi, vận động cơ thể hoặc gõ đệm.
— Biết cảm nhận âm thanh cao — thấp, dài — ngắn. — Biết cảm nhận âm sắc nhạc cụ hoặc giọng hát. — Nhận ra bài hát hoặc biết tên tác giả. — Phát triển được trí tưởng tượng.
* Quy trình dạy học nghe nhạc Tuy các dạng bài tập nghe nhạc có một chút khác biệt trong quy trình dạy học, nhưng các bước phô biên là: — Bước l: Giới thiệu bản nhạc và yêu cầu khi nghe nhạc. — Bước 2: Nghe nhạc kết hợp các hoạt động. — Bước 3: Trao đồi, thảo luận về bản nhạc (có thể không thực hiện). li Với HS lớp 1, thời lượng nghe nhạc chỉ nên ngắn gọn, nên nghe nhạc kết hợp xem video.
Việc nghe những bản nhạc vui, có nhịp điệu sôi nôi, kêt hợp vận động cơ thê nên thực hiện vào đầu tiết học thay cho hoạt động khởi động. Đọc nhạc * Một số yêu câu về đọc nhạc — Đọc đúng tên nốt. ~ Bước đầu đọc đúng cao độ và trường độ các nốt nhac. ~ Bước đầu cảm nhận và phân biệt được âm thanh cao — thấp, dài —ngắn, to — nhỏ.
~ Biết đọc nhạc theo nốt nhạc hình tượng. ~ Biết đọc nhạc theo kí hiệu bàn tay: Nót nhạc hình tượng (tiếng Anh: iconic/graphic notation) la cac nốt nhạc được biểu thị bằng hình ảnh tượng trưng, nhằm thu hút thị giác, giúp HS dễ nhớ, dé hoc. Ban đầu, GV hướng dẫn HS thực hành đọc các âm hình tiết tấu hoặc các câu nhạc được ghi bằng các kí hiệu mang tính biểu tượng. Sau khi HS đã thành thạo, GV có thể cho HS chuyển sang đọc theo cách kí âm bằng kí hiệu âm nhạc.
Đọc nhạc theo kí hiệu bàn tay (tiếng Anh: reading music with hand signs) là phương pháp đọc nhạc mà các nốt nhạc được kí hiệu bằng các tư thế khác nhau của bàn tay (phương pháp Kodáiy).