CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất 1. Năng lực, phẩm chất và phân loại năng lực Trong chương trình giáo dục tổng thể đã xác định 5 phẩm chất và 10 năng lực cốt lõi của học sinh, cụ thể như sau: Hình 1.1: Các năng lực, phẩm chất cần hình thành cho học sinh 1. Khái niệm năng lực, phân loại năng lực Hiện nay, khái niệm NL được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo Từ điển Tiếng Việt [25, tr.639], NL được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới NL của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” khi đề cập tới NL của con người.55] 13 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó.
41]: Theo Xavier Roegiers (1996), Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, người dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn Ngọc Nhi, NXB Giáo dục đã định nghĩa NL là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó bằng việc sử dụng những kĩ năng đã tích hợp.48] Trong cuốn Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm, năm 2014, Nguyễn Văn Cường định nghĩa NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm, hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở vận dụng những hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cá nhân. Trong Chương trình GDPT 2018 đã đưa ra năng lực là: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các tố chất và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện cụ thể. Có thể thấy dù cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: NL là những kiến thức, kĩ năng của cá nhân được áp dụng để giải quyết các tình huống một cách có trách nhiệm và hiệu quả bằng những phương tiện, biện pháp và cách thức phù hợp.
Phân loại năng lực: Cũng giống như khái niệm, việc phân loại năng lực cũng có nhiều quan điểm, cách chia khác nhau. Nhìn vào chương trình dạy học được thiết kế theo NL của các nước thuộc khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) có thể thấy hai loại chính: NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt. Năng lực chung là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. NL chung được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học.
Theo quan điểm của OECD, mỗi NL chung cần: (i) Kết quả tạo nên nhờ NL chung mang lại giá trị cho xã hội và cộng đồng; (ii) Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; (iii) Các NL chung có thể 14 không quan trọng với các chuyên gia, nhưng quan trọng với tất cả mọi người.42] NL được hình thành và phát triển ở một lĩnh vực chuyên môn nào đó và là điều kiện để hoạt động chuyên môn này đạt kết quả tốt được gọi là NL cụ thể, chuyên biệt. NL chuyên biệt sẽ góp phần hình thành NL chung, NL chung là cơ sở để phát huy NL chuyên biệt. Hai loại NL: NL chung và NL chuyên biệt không bao giờ tách biệt mà luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Phẩm chất Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa như sau [25, tr.32]: - Phẩm chất là mức độ làm nên giá trị của người hay vật Nghĩa của từ phẩm chất là tính chất bên trong con người.
Hay còn gọi là tư cách đạo đức trong con người. Các yếu tố chính cấu thành nên phẩm chất là: Ý thức; Tình cảm; Thuộc tính tâm lí; Xu hướng; Tính cách; Khí chất; Năng lực. Phẩm chất là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người. Từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh.
Phẩm chất thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống. Đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội. Vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.
Có thể hiểu, phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục. Phân loại phẩm chất: 5 phẩm chất của học sinh trong chương trình giáo dục tổng thể gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Yêu nước: Đây là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam, được xây dựng và bồi đắp qua các thời kỳ từ khi ông cha ta dựng nước vàgiữ nước. Tình yêu đất nước được thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, di sản, yêu người dân đất nước mình; tự hào và bảo vệ những điều thiêng liêng đó.
15 Yêu nước là yêu thiên nhiên, yêu truyền thống dân tộc, yêu cộng đồng và biết làm ra các việc làm thiết thực để thể hiện tình yêu đó. Để có được tình yêu này thì trẻ phải được học tập hàng ngày qua những áng văn thơ, qua những cảnh đẹp địa lý, qua những câu chuyện lịch sử và trẻ phải được sống trong tình yêu hạnh phúc mỗi ngày. Nhân ái: Nhân ái là biết yêu thương, đùm bọc mọi người; yêu cái đẹp, yêu cái thiện; tôn trọng sự khác biệt; cảm thông, độ lượng và sẵn lòng giúp đỡ người khác. Nhân ái là tôn trọng sự khác biệt của những người xung quanh, không phân biệt đối xử, sẵn sàng tha thứ, tôn trong về văn hóa, tôn trọng cộng đồng.
Chăm chỉ: Đức tính chăm học, chăm làm, hăng say học hỏi và nhiệt tình tham gia công việc chung sẽ giúp các em rèn luyện, phát triển bản thân để đạt được những thành công lớn lao trong tương lai. Chăm chỉ thể hiện ở những kỹ năng học tập hàng ngày của trẻ, học mọi lúc mọi nơi, luôn dám nghĩ dám làm, dám đặt câu hỏi. Việc rèn nề nếp học tập chủ động, học tập qua trải nghiệm sẽ hỗ trợ trẻ hình thành phẩm chất đáng quý này. Trung thực: Dù một người có giỏi đến đâu mà thiếu đi đức tính này thì vẫn là kẻ vô dụng.
Bởi thế nên ngay từ nhỏ, các học sinh cần được rèn luyện tính thật thà, ngay thẳng và biết đứng ra bảo vệ lẽ phải. Trung thực là thật thà ngay thẳng, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình, biết nhận lỗi, sửa lỗi, bảo vệ cái đúng cái tốt. Với môi trường học tập không áp lực, không nặng nề điểm số, khuyến khích trẻ nói lên chính kiến của mình thông qua các dạng học tập nhóm, hội thảo, tranh biện…sẽ dần hình thành tính cách chia sẻ, cởi mở cho trẻ ngay từ nhỏ. Trách nhiệm: Chỉ khi một người có trách nhiệm với những gì mình làm thì đó mới là khi họ trưởng thành và biết cống hiến sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn Trách nhiệm việc xây dựng nội quy lớp học, môn học, việc hướng dẫn trẻ tự kiểm soát đánh giá những quy định mà chúng đã đề ra sẽ dần hình thành tinh thần trách nhiệm với cá nhân trẻ, với tập thể lớp, với gia đình và tiến tới với xã hội.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Qúa trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của một quá trình được gọi là dạy học theo định hướng phát triển NL. Đặc điểm về mục tiêu: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm giúp HS phát triển NL chung và NL đặc thù của bộ môn. Nội dung, kiến thức môn học là phương tiện để đạt được mục tiêu NL.16] Đặc điểm về nội dung dạy học: Nội dung dạy học có tính mở tạo điều kiện để người dạy và người học dễ tiếp cận tri thức mới, đồng thời chú trọng các kỹ năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn. Phương pháp tổ chức dạy học: Người dạy tổ chức các hoạt động học tập thông qua các phương pháp, kĩ thuật dạy học giúp HS tham gia tích cực vào giờ học.
Trong quá trình dạy học, GV cần phát huy tối đa vai trò chủ thể của người học. GV không nhồi nhét, cung cấp nội dung sẵn có mà để HS tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, tranh luận để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm.17] Dạy học tích hợp cũng được xem là một trong những phương pháp dạy học theo định hướng phát triển NL. Điều này, được thể hiện rõ nhất ở bộ môn Ngữ văn. Ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học từ giảng văn sang đọc hiểu văn bản, chương trình Ngữ văn 2018 còn tích hợp thêm các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.
Việc hình thành và phát triển cho HS bốn kĩ năng đọc, viết, nói và nghe sẽ giúp HS ngoài việc phát triển NL chung còn đạt được mục tiêu hình thành và phát triển cho HS hai NL đặc thù của bộ môn đó là NL ngôn ngữ và NL văn học. Dạy học ngữ văn cho học sinh lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chât.1 Mục tiêu dạy học Theo CT GDPT môn Ngữ văn 2018, mục tiêu chung của môn Ngữ văn là: “Hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính. Môn Ngữ văn giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử 17 nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế.