lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu và danh mục các từ viết tắt, khóa luận được kết cấu như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1: Lý luận chung về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam tại Myanmar Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam tại Myanmar giai đoạn 2012 – 2016 Chƣơng 3: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam tại Myanmar Em xin chân thành cảm ơn PGS. Nguyễn Thị Tƣờng Anh, giảng viên khoa Kinh tế quốc tế trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội đã đưa ra những ý kiến, nhận xét quý giá trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TẠI MYANMAR 1.1 Những vấn đề cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại FDI 1.1 Khái niệm Trước khi đưa ra quyết định đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư sẽ lưu ý tới hình thức đầu tư phù hợp với mục đích đầu tư của doanh nghiệp tại quốc gia đó. Những sự lựa chọn bao gồm: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư chứng khoán nước ngoài (FPI) hay tín dụng tư nhân.
FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó. Điểm khác biệt của FDI so với tín dụng tư nhân thể hiện ở việc chủ đầu tư FDI sẽ mua tài sản ở nước khác còn chủ đầu tư tín dụng tư nhân đầu tư bằng cách cho đối tượng ở một nước khác vay vốn trong một thời gian nhất định. Trong khi đó, quyền kiểm soát trong FDI (sự tham gia của chủ đầu tư vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán (Vũ Chí Lộc, 2012). Trên thế giới có nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về FDI ở những cách tiếp cận khác nhau.
Theo IMF (1993), FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Khái niệm FDI của OECD về cơ bản cũng giống với khái niệm IMF đưa ra, đó là việc thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tương tự với việc theo đuổi những lợi ích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lâu dài trong khái niệm của IMF) và tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm của OECD đã chỉ rõ hơn những cách thức mà nhà đầu tư có thể sử dụng để tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Theo UNCTAD (1998), FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư trong thời gian dài, phản ánh lợi ích lâu dài và sự kiểm soát của một công ty ở trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với công ty con ở nền kinh tế khác.
FDI có thể hiểu theo hai nghĩa là FDI vào (đối với nước tiếp nhận đầu tư) và FDI ra (đối với nước chủ đầu tư). Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, FDI được hiểu theo nghĩa là FDI ra, cụ thể là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được quy định trong Nghị định số 83/2015/NĐ-CP về việc giải thích hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Nhìn chung, các khái niệm trên đều bàn đến việc chuyển vốn từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động kinh doanh và đảm nhiệm điều hành hoạt động của nhà đầu tư, các nhà đầu tư có được nhiều lợi nhuận hơn từ việc đầu tư ra nước ngoài. Tóm lại có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó”.2 Đặc điểm Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Luật pháp của một số nước có thể quy định trong trường hợp đặc biệt FDI có thể có sự góp vốn của Nhà nước, ví dụ như Việt Nam. Tuy nhiên, theo nhiều nguồn tài liệu và theo quy định của luật pháp nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân.
Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các chủ đầu tư FDI dù là tư nhân hay Nhà nước chính là tìm kiếm lợi nhuận khi đầu tư tại nước khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Theo quy định của OECD (1999) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp – mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. Tại Myanmar, theo Mục ii, Khoản a, Điều 10 của FIL 2012, chính phủ không quy định mức vốn góp trong một dự án FDI.
Đối với hình thức liên doanh, tỷ lệ vốn góp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cá nhân, tổ chức trong nước do các bên tự thỏa thuận. MIC sẽ là người quyết định cuối cùng. Tỷ lệ vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỉ lệ này. Thứ ba, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi.
Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư. Thứ tư, FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà bao gồm cả bí quyết kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại, tạo ra năng lực sản xuất mới và mở rộng thị trường cho cả nước tiếp nhận đầu tư và nước chủ đầu tư. Thứ năm, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Khi tiến hành đầu tư vào một nước, chủ đầu tư nước ngoài không chỉ cung cấp vốn bằng tiền mà còn chuyển giao công nghệ từ nước chủ đầu tư hoặc các nước khác sang nước nhận đầu tư.
Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được các máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động được đào tạo về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động,…).3 Phân loại FDI Theo cách thức xâm nhập Theo cách thức xâm nhập, FDI được chia thành hai hình thức: Đầu tư mới (Greenfield Investment - GI): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Hình thức này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thường được các nước nhận đầu tư đánh giá cao vì nó có khả năng tăng thêm vốn, tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng cho nước này. Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross - border & Acquisition – M&A): Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh có sẵn tại nước nhận đầu tư. Sáp nhập và mua lại được nhiều chủ đầu tư ưa chuộng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thường thấp hơn và cho phép chủ đầu tư tiếp cận thị trường nhanh hơn.
Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức: FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác tài nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI). Như vậy, doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyền sản xuất và phân phối sản phẩm cuối cùng. FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư. Như vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hình thức FDI này chính là sự khác biệt của sản phẩm.
FDI chiều ngang được tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền nhóm, đặc biệt là khi việc phát triển ở thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền. FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Theo định hướng của nước nhận đầu tư Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức: FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu. Các yêu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận tải.
FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm đến không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lớn hơn trên toàn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm. FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo ý đồ của mình.