Luận Án Về Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Doanh Nghiệp Việt Nam Sang Các Nước ASEAN

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp việt nam sang các nước asean trong, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Người đăng

Ẩn danh
176
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp tiếp cận

1.4.2. Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu

1.4.3. Khung phân tích

1.4.4. Phương pháp ước lượng mô hình dữ liệu mảng

1.4.5. Phương pháp xử lý dữ liệu

1.5. Những đóng góp mới của luận án

1.5.1. Về mặt lý luận

1.5.2. Về mặt thực tiễn

1.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI TRONG KHUÔN KHỔ AEC VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN TRONG KHUÔN KHỔ AEC

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP SANG ASEAN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN TRONG KHUÔN KHỔ AEC

5. CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP SANG ASEAN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG ASEAN ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những tác động sâu rộng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp. Dòng vốn đầu tư quốc tế chủ yếu đến từ các nước phát triển, nhưng gần đây, các nước đang phát triển, trong đó có doanh nghiệp Việt Nam, đã gia tăng hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Theo báo cáo của World Investment Report 2020, khoảng 37% dòng vốn đầu tư ra nước ngoài năm 2019 đến từ các nước này. Các quốc gia nhận thức rõ vai trò của đầu tư quốc tế trong việc khai thác thị trường, đảm bảo nguồn cung ứng nguyên liệu và tạo ảnh hưởng trong các vấn đề quốc tế. ASEAN, với mục tiêu hình thành AEC, đã tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kết quả đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều dự án đầu tư đã gặp khó khăn, thua lỗ hoặc phải rút lui. Do đó, việc nghiên cứu đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong khuôn khổ AEC là cần thiết để xác định các cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động này.

II. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích và đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN trong bối cảnh AEC. Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ trả lời ba câu hỏi chính: Thứ nhất, thực trạng đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN như thế nào? Thứ hai, các yếu tố nào tác động đến hoạt động đầu tư trực tiếp này? Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam cần có những giải pháp gì để đẩy mạnh đầu tư trực tiếp sang ASEAN trong khuôn khổ AEC đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030? Những câu hỏi này sẽ giúp xác định rõ hơn về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam trong khu vực ASEAN.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN. Phạm vi nghiên cứu được xác định theo không gian và thời gian. Về không gian, luận án chỉ tập trung vào đầu tư trực tiếp sang ASEAN, không đề cập đến các hình thức đầu tư khác. Về thời gian, nghiên cứu sẽ tập trung vào giai đoạn từ 2016 đến 2019, so sánh với giai đoạn trước đó từ 1991 đến 2015. Thời điểm 1991 được chọn làm mốc khởi đầu cho hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN. Mặc dù một số dữ liệu đã được cập nhật đến năm 2019, nhưng việc phân tích mô hình tác động chỉ sử dụng dữ liệu đến năm 2017 do hạn chế trong việc cập nhật thông tin.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp phân tích các yếu tố kéo và đẩy tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN. Các yếu tố đẩy từ phía Việt Nam bao gồm chính sách của nhà nước và các yếu tố kinh tế, trong khi các yếu tố kéo liên quan đến điều kiện thị trường tại ASEAN. Dữ liệu chủ yếu được thu thập từ các nguồn chính thức như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, và Tổng cục Thống kê. Mô hình ước lượng sẽ được sử dụng để phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến hoạt động đầu tư trực tiếp. Kết quả phân tích sẽ cung cấp cơ sở cho các đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN.

V. Những đóng góp mới của luận án

Luận án không chỉ hệ thống hóa lý thuyết về đầu tư trực tiếp mà còn xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến hoạt động này trong bối cảnh AEC. Các chỉ tiêu như độ mở cửa và thuế suất đã được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thị trường chung. Luận án cũng phân tích tình hình đầu tư trực tiếp của một số quốc gia châu Á sang ASEAN, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, luận án đã chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 1991-2019, đồng thời đề xuất các giải pháp mới nhằm thúc đẩy hoạt động này đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi Trong số các lý thuyết tìm cách lý giải về đầu tư quốc tế, các lý thuyết dựa trên những lý giải về tổ chức doanh nghiệp hiện có ảnh hưởng lớn nhất. Những lý giải về tổ chức doanh nghiệp của FDI bắt nguồn từ luận án tiến sĩ nổi tiếng của Hymer hoàn thành năm 1960, công bố năm 1978. Trong luận án của mình, trước tiên Hymer phân biệt giữa đầu tư chứng khoán và ĐTTT, kết luận rằng các giả thuyết về trao đổi vốn thông qua thị trường chứng khoán lý giải sự di chuyển vốn quốc tế không phù hợp với sự phân bố vốn thực tế của các MNC và không thể lý giải nguyên nhân của FDI.

Hymer đưa ra một nền tảng mới về cách lý giải vi mô đối với FDI bằng cách chỉ ra rằng FDI không phân bố một cách ngẫu nhiên giữa các ngành công nghiệp và rằng các điều kiện cạnh tranh, đặc biệt là các điều kiện về thị trường sản phẩm, ảnh hưởng rất lớn đến dòng vốn FDI. Áp dụng lý thuyết về tổ chức doanh nghiệp, Hymer chỉ ra rằng nếu các MNC nước ngoài hoàn toàn giống với các doanh nghiệp trong nước sẽ chẳng tìm thấy lợi ích gì khi thâm nhập vào thị trường nước đó, vì rõ ràng chúng phải trả những chi phí phụ trội khi kinh doanh ở những nước khác, ví dụ như phí liên lạc và vận chuyển, chi phí cao hơn cho nhân viên làm việc ở nước ngoài, rào cản về ngôn ngữ, hải quan và phải hoạt động ngoài mạng lưới kinh doanh nội địa (đây là những bất lợi của công ty khi đầu tư ra nước ngoài). Vậy nên Hymer cho rằng để các MNC tiến hành sản xuất ở nước ngoài cần có một số lợi thế sở hữu riêng như nhãn hiệu nổi tiếng, công nghệ cao hơn và được bảo hộ, kỹ năng quản lý hoặc chi phí thấp hơn nhờ mở rộng quy mô…những lợi thế này để bù lại những bất lợi mà doanh nghiệp phải đương đầu trong cạnh tranh với các công ty khác ở nước sở tại. Việc doanh nghiệp quyết định sẽ khai thác các lợi thế này bằng cách cấp giấy phép sử dụng công nghệ cao cho đối tác (cấp license) hoặc FDI phụ thuộc vào bản 10 chất của các lợi thế và mức độ không hoàn hảo của các thị trường đối với các lợi thế mà doanh nghiệp nắm giữ.

Sự không hoàn hảo càng cao thì doanh nghiệp càng có xu hướng lựa chọn FDI và kiểm soát hoạt động hơn là tiến hành những giao dịch thương mại thông thường. Như vậy, Hymer đã đề cập đến nhân tố về lợi thế sở hữu của doanh nghiệp song chưa đề cập đến lợi thế về địa điểm cũng như tác động của ĐTTTRNN. Tiếp đó lý thuyết về Vòng đời quốc tế sản phẩm của Vernon (1966) giải thích các yếu tố quyết định đến thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế. Lý thuyết này được S.Hirsch (1976) phát triển tiếp trên trên cơ sở nghiên cứu các doanh nghiệp của Mỹ.

Theo đó, mối quan hệ đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm. Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hóa sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau. Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này là: (i) Mỗi sản phẩm có một vòng đời, xuất hiện-tăng trưởng mạnh- chững lại-suy giảm tương ứng với quy trình xâm nhập-tăng trưởng-bão hòa-suy giảm; (ii) Vòng đời này dài hay ngắn tùy thuộc từng sản phẩm. Ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác.

Nhưng khi các sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác. Và theo lý thuyết này, kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó. Cụ thể, vòng đời quốc tế của sản phẩm gồm 3 giai đoạn: (i) Sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi nhanh và được bán ở trong nước phát minh ra sản phẩm, xuất khẩu không đáng kể; (ii) Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện, FDI xuất hiện; (iii) Sản phẩm và quy trình sản xuất được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh, FDI tiếp tục phát triển. Để khắc phục hạn chế của Lý thuyết Vòng đời quốc tế của sản phẩm của Vernon, một số nhà kinh tế học khác đề xuất mở rộng các giả thuyết của Vernon bằng cách đưa thêm các chi phí khác ngoài chi phí lao động vào để lý giải hiện 11 tượng FDI của tất cả các nước phát triển.

Lý thuyết vòng đời sản phẩm chưa đề cập đến các yếu tố khác như lợi thế địa điểm cũng có tác động đến đầu tư ra nước ngoài. Buckley và Casson (1976) phát triển lý thuyết nội bộ hóa để lý giải sự phát triển của các MNC trên cơ sở lý thuyết về chi phí giao dịch. Theo quan sát của Buckley và Casson, để các MNC thâm nhập các thị trường nước ngoài thông qua FDI hơn là thông qua các hình thức kinh doanh khác, như xuất khẩu hoặc cấp license, cần phải có một số lợi thế về nội bộ hóa, nghĩa là cần có các lợi ích kinh tế gắn việc doanh nghiệp khai thác một cơ hội thị trường thông qua các hoạt động trong nội bộ hơn là thông qua các giao dịch bên ngoài (các hoạt động thương mại thông thường). Cách tiếp cận nội bộ hóa gắn với ý tưởng về sự không hoàn hảo của thị trường do Hymer đề xuất và mở rộng hơn để đưa ra cách lý giải về sự tồn tại của các MNC vượt qua biên giới quốc gia.

Lý thuyết này cho rằng đương đầu với sự không hoàn hảo của thị trường các tài sản vô hình và thông tin, doanh nghiệp có xu hướng nội bộ hóa các hoạt động để giảm đến mức thấp nhất các chi phí giao dịch và tăng hiệu quả sản xuất. Tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác chỉ ra ba điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Dunning (1977, 1988) trên cơ sở kết hợp các giả thuyết về tổ chức doanh nghiệp, nội bộ hóa và lợi thế địa điểm để lý giải về đầu tư quốc tế. Theo tác giả nên đầu tư dưới hình thức FDI khi cả ba yếu tố lợi thế về địa điểm, lợi thế về quyền sở hữu và lợi thế về nội bộ hóa được thỏa mãn. Ba yếu tố trên được kết hợp trong một mô hình có tên gọi OLI, trong đó O (Owership advantages) là lợi thế về quyền sở hữu, L (Location advantages) là lợi thế về địa điểm và I (Internalization advantages) là lợi thế về nội bộ hóa.

MNC sẽ so sánh giữa những điểm lợi và điểm bất lợi của các hình thức trên và lựa chọn hình thức nào có lợi thế nhất cho mình. Theo các giả thuyết về nội bộ hóa, FDI sẽ được sử dụng nhằm thay thế các giao dịch trên các thị trường bằng các giao dịch nội bộ khi các nhà đầu tư thấy các giao dịch nội bộ sẽ ít tốn kém, an toàn và khả thi hơn các giao dịch trên thị trường bên ngoài. Điều này thường xảy ra do sự không hoàn hảo của thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất. Sự không hoàn 12 hảo của thị trường xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chủ yếu, đó là những yếu kém tự nhiên và những yếu kém về cơ cấu của thị trường.

Như vậy, khi thị trường bên ngoài không hoàn hảo, các doanh nghiệp sẽ có được lợi thế nội bộ hóa khi lựa chọn FDI là hình thức xâm nhập thị trường nước ngoài. Lợi thế này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí và khắc phục những rào cản, rủi ro do sự không hoàn hảo của thị trường bên ngoài gây ra (rào cản thuế quan và phi thuế quan, biến động bất thường của thị trường hàng hóa bên ngoài…). Chính các lợi thế nội bộ hóa giúp các MNC tiến hành hoạt động kinh doanh đồng bộ và hoàn chỉnh, sản xuất ở nhiều nước và sử dụng thương mại trong nội bộ doanh nghiệp để lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố vô hình giữa các chi nhánh của chúng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mặc dù nội bộ hóa đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng phải trả những chi phí nhất định cho quá trình liên kết kinh doanh.

Một trong những chi phí quan trọng nhất đó là chi phí quản lý, nghĩa là chi phí điều hành một doanh nghiệp lớn với nhiều công ty thành viên hợp tác trong cùng ngành hoặc trong cùng ngành có tính chất bạn hàng của nhau, các doanh nghiệp này có thị trường nội bộ rất phức tạp về hàng hóa, dịch vụ và các tài sản vô hình. Thứ hai, việc liên kết kinh doanh trên toàn cầu đòi hỏi các nguồn tài chính khổng lồ mà có thể không có sẵn đối với doanh nghiệp hoặc chỉ sẵn có với chi phí cao hơn so với các hình thức khác. Thứ ba, các phương pháp kinh doanh mới có thể kéo theo những đòi hỏi đặc biệt hoặc các tài sản chuyên dụng mà MNC không có, khi đó doanh nghiệp có thể chọn các hình thức xâm nhập khác. Khi đã có lợi thế về quyền sở hữu và lợi thế nội bộ hóa, các doanh nghiệp sẽ còn phải cân nhắc để chọn địa điểm đầu tư trực tiếp ở nước nào có lợi nhất cho việc phát huy hai lợi thế trên.

Vấn đề này sẽ được giải đáp thông qua các đánh giá về lợi thế địa điểm hay còn gọi là lợi thế riêng của nước nhận đầu tư với chủ đầu tư. Sau lý thuyết OLI, Dunning đã phát triển lên lý thuyết IDP (Investment Development Path) để giải thích hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Án Về Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Doanh Nghiệp Việt Nam Sang Các Nước ASEAN" cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam vào khu vực ASEAN trong bối cảnh AEC. Bài viết phân tích các yếu tố thúc đẩy và thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt khi mở rộng ra thị trường quốc tế, đồng thời nêu bật những lợi ích mà đầu tư trực tiếp mang lại cho nền kinh tế Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức đầu tư, các chính sách hỗ trợ và những kinh nghiệm thực tiễn từ các doanh nghiệp đã thành công.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực đầu tư và pháp luật liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách đầu tư hiện hành. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu phát triển đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào lĩnh vực công nghiệp ở Lào" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự mở rộng đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là trong ngành công nghiệp. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về pháp luật đầu tư vào khu công nghiệp và thực tiễn tại tỉnh Hà Nam" sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư trong khu công nghiệp, một lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về đầu tư và pháp luật trong bối cảnh hiện tại.