Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển tại các doanh nghiệp truyền tải điện. Chương 3: Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty Truyền tải điện I giai đoạn 2011 – 2015. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Công ty Truyền tải điện I đến năm 2020.
6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRUYỀN TẢI ĐIỆN 2. Đặc điểm đầu tƣ phát triển tại các doanh nghiệp truyền tải điện 2. Khái niệm đầu tư phát triển tại các doanh nghiệp truyền tải điện “Về cơ bản, khái niệm ĐTPT có thể được hiểu một cách chung nhất như sau: Là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục đích phát triển.” “ĐTPT trong DN:“Là hoạt động sử dụng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản mới cho DN, tạo thêm việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống các thành viên trong DN.” “Tuy nhiên, đối với các DN TTĐ, mục tiêu ĐTPT cũng có những nét đặc thù nhất định. Bên cạnh mục tiêu tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực… như các DN thông thường thì DN TTĐ thực hiện hoạt động ĐTPT còn nhằm mục đích“thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”và nâng cao đời sống của người dân, thực hiện những nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước giao cho.” “Ngoài ra, các DN TTĐ kinh doanh sản phẩm chính là điện năng, là sản phẩm có quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm diễn ra đồng thời, hầu như không thể dự trữ sản phẩm một cách trực tiếp.
Sản phẩm điện năng có tính chất là sản phẩm không thể thấy và không có tồn kho như các loại hàng hoá khác. Điện năng tiêu thụ được mang đến người tiêu dùng thông qua hệ thống TTĐ. Vì vậy, trong quá trình TTĐ năng và kinh doanh điện năng bị tổn hao (tổn thất điện năng). Tổn thất điện năng trong quá trình TTĐ năng (tổn thất kỹ thuật) là loại tổn thất xảy ra phụ thuộc vào tình trạng dây dẫn và các thiết bị trên lưới điện.
Tổn thất điện năng trong quá trình kinh doanh (tổn thất điện năng phi kỹ thuật) xảy ra hoàn toàn do chủ quan của người làm công tác kinh doanh như điện kế hoạt động không chính xác, người 7 ghi chỉ số sai, người sử dụng điện năng ăn cắp điện… và đây là yếu tố chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng chi phí của ngành TTĐ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động đầu tư.” “Do đó, đầu tư phát triển trong các doanh nghiệp truyền tải điện là việc DN bỏ vốn đầu tư vào các công trình lưới điện, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra hệ thống lưới điện truyền tải ngày càng hiện đại, từ đó làm tăng sản lượng điện năng cung ứng trên thị trường thông qua hệ thống truyền tải điện và giảm tỷ lệ tổn thất điện năng. Vai trò của đầu tư phát triển tại doanh nghiệp truyền tải điện “ĐTPT“quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển”của mỗi DN nói chung và trong DN TTĐ nói riêng. Hoạt động ĐTPT được xem là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế và là chìa khóa của tăng trưởng.” “Song hành cùng sự phát triển của ngành điện đòi hỏi cần phải“quản lý, vận hành lưới điện”truyền tải ngày một tốt hơn, đảm bảo an toàn, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững KT-XH, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để tăng sản lượng truyền tải thì tất yếu phải nâng cao chất lượng đường dây truyền tải; bởi vậy, ĐTPT với vai trò của mình, sẽ“góp phần xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm lắp đặt”trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ“khoa học kỹ thuật trong hoạt động”SXKD của DN TTĐ, thay thế MMTB đã cũ, lạc hậu.
Thêm vào đó là đầu tư cho các công trình XDCB như nhà xưởng, nhà điều hành, TBA để“nâng cao chất lượng và khả năng”truyền tải ngày một tốt hơn.” “Ngoài ra, ĐTPT còn“tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân, kỹ sư, đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất. Cùng với điều kiện sản xuất như nhau nhưng lao động có trình độ chuyên môn, năng lực công việc cao, có kinh nghiệm sẽ tạo ra được sản phẩm có chất lượng tốt hơn.”Bên cạnh đó, TTĐ là một trong những ngành có độ rủi ro cao đối với NLĐ. Vì vậy, hoạt động“đầu tư vào nguồn nhân lực”của DN TTĐ sẽ“góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an toàn”cho NLĐ, tránh xảy ra các sự cố, rủi ro đáng tiếc trong quá trình làm việc. Đặc điểm đầu tư phát triển tại doanh nghiệp truyền tải điện “Thứ nhất, vốn yêu cầu lớn.
Do yêu cầu về chất lượng cũng như kỹ thuật của các công trình điện mà nguồn vốn sử dụng cho quá trình đầu tư thường lớn. Bên cạnh việc sử dụng một lượng lớn nguồn vốn từ NSNN, DN TTĐ còn phải đi vay để có thể đáp ứng kịp nhu cầu vốn cho các dự án. Nguồn vốn vay thường là Nhà nước hoặc các Tập đoàn hay TCT mẹ đứng ra huy động từ vốn ODA, vốn DPL từ ADB, WB, JICA….” “Thứ hai, trong hoạt động ĐTPT của DN TTĐ thì hoạt động đầu tư XDCB chiếm phần lớn. Đặc trưng của ngành TTĐ là QLVH lưới điện truyền tải, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hệ thống lưới điện, thiết bị điện… Bởi vậy, để phục vụ cho những nhu cầu này, hệ thống TBA, nhà điều hành… phải được nâng cấp, sửa chữa thường xuyên.
Thêm vào đó, các công trình xây dựng về TTĐ thường yêu cầu số lượng MMTB lớn, chất lượng cao để phục vụ quá trình TTĐ năng, do đó, phải thường xuyên đầu tư mua sắm MMTB hiện đại, đặc biệt là liên tục bổ sung, sửa chữa, nâng công suất của các trạm MBA 110kV, 220kV và 500kV.” “Thứ ba, thời gian thực hiện đầu tư dài, hoạt động đầu tư phải thực hiện trên phạm vi rộng, trải dài khắp các tỉnh, thành phố, từ đồng bằng đến miền núi, công trình xây dựng theo tuyến, khó khăn trong khâu GPMB. Việc thực hiện đầu tư xây dựng trên các khu dân cư đông, địa hình phức tạp, phụ thuộc rất nhiều sự đồng thuận của người dân toàn tuyến, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị chung cũng như mức độ an toàn đối với người dân sống sát với đường dây điện. Do đó, dẫn đến khó khăn trong khâu GPMB, tái định cư cho người dân vùng có các công trình lưới điện đi qua, hơn nữa quy trình kỹ thuật cũng phức tạp. Bởi vậy, thời gian cho quá trình đầu tư thường dài.” “Thứ tư, lao động đòi hỏi có kinh nghiệm và quá trình đầu tư phải đảm bảo an toàn cho NLĐ.
TTĐ là một trong những ngành có rủi ro cao đối với NLĐ. Để đảm bảo an toàn cho NLĐ, đòi hỏi đội ngũ công nhân, kỹ sư phải có trình độ chuyên môn, năng lực công việc cao, có kinh nghiệm, tránh xảy ra sự cố, rủi ro đáng tiếc.” “Thứ năm, đầu tư vào các công trình TTĐ có kỹ thuật phức tạp. Hoạt động đầu tư ngành TTĐ đòi hỏi về công nghệ kỹ thuật hiện đại để đạt được hiệu quả tối 9 ưu. Công nghệ kỹ thuật càng hiện đại, máy móc phát huy nhiều tính năng, hiệu quả khai thác sẽ cao hơn.
Nếu công nghệ lạc hậu, chất lượng máy móc kém sẽ gây hậu quả nghiêm trọng trong quá trình vận hành, ảnh hưởng tới tài sản và tính mạng con người.” “Thứ sáu, đầu tư của các DN TTĐ đều có tác động tích cực đến hiệu quả KT-XH hơn là hiệu quả tài chính. Nhiệm vụ của các DN TTĐ là thực hiện đầu tư theo kế hoạch và chỉ đạo của Nhà nước. Các công trình TTĐ đều được thực hiện vì mục đích nâng cao chất lượng phục vụ, cung ứng điện năng cho nền KT-XH ngày càng tăng về khối lượng và ổn định, an toàn về chất lượng điện. Bởi vậy, hiệu quả KT-XH được đặt lên cao hơn so với chỉ tiêu về lợi nhuận, đảm bảo cung cấp đủ điện năng cho nền kinh tế, góp phần vào sự phát triển KT-XH chung của đất nước.
Nguồn vốn đầu tƣ phát triển tại các doanh nghiệp truyền tải điện Nguồn VĐT đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với DN. Vốn không chỉ giúp DN duy trì hoạt động SXKD mà còn giúp DN mở rộng và phát triển. Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn“vốn chủ sở hữu được hình thành từ phần tích luỹ nội bộ DN”(vốn hình thành ban đầu, vốn bổ sung từ lợi nhuận giữ lại) và phần khấu hao hàng năm. Vốn ban đầu: Khi thành lập DN, chủ DN“phải có một số vốn ban đầu nhất định, do các cổ đông – chủ sở hữu đóng góp.
Hình thức sở hữu DN quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của DN. Đối với các DN TTĐ, phần lớn là các DN Nhà nước, do đó vốn hình thành ban đầu chính là VĐT từ NSNN.” Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Nguồn“vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng”SXKD của DN nói chung và DN TTĐ nói riêng. Đây là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng của các DN, bởi vì DN giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài như các nguồn vốn vay và các nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước. Nguồn vốn nợ Đối với DN TTĐ, nguồn vốn nợ có thể được hình thành qua các kênh như sau: Trái phiếu DN: DN TTĐ phát hành trái phiếu“nhằm huy động vốn trên thị trường, trong đó các chủ sở hữu được cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định.” Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Vốn“vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất”đối với các DN nói chung cũng như DN TTĐ nói riêng.
Sự phát triển của DN“gắn liền với các dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng nguồn vốn tín dụng,”đặc biệt đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của DN.” Nguồn vốn tín dụng ĐTPT: DN“TTĐ cũng có thể sử dụng vốn tín dụng đầu tư.