Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An (Quảng Nam) Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ (1954-1975)

Tài liệu nghiên cứu Luận án đấu tranh chính trị tại hội an quảng nam trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ sử học

2020

233
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đấu tranh chính trị ở Hội An

1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở Hội An (Quảng Nam) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

1.4. Những vấn đề luận án kế thừa

1.5. Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

2. CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở HỘI AN (QUẢNG NAM) TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC GIAI ĐOẠN 1954 - 1965

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Hội An trước Hiệp định Genève (21-7-1954)

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Hội An trước 1954

2.2. Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở Hội An giai đoạn 1954 - 1965

2.2.1. Về chính trị - quân sự

2.2.2. Về kinh tế - xã hội

2.2.3. Về văn hóa - giáo dục

2.3. Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng các cấp về đấu tranh chính trị ở Hội An giai đoạn 1954 - 1965

2.3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng

2.3.2. Chủ trương của Liên Khu ủy V

2.3.3. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng

2.3.4. Chủ trương của Thị ủy Hội An

2.4. Nội dung đấu tranh chính trị ở Hội An (Quảng Nam) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1954 - 1965

2.4.1. Đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành Hiệp định Genève (21-7-1954)

2.4.2. Đấu tranh chống “tố Cộng”

2.4.3. Đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ

2.4.4. Đấu tranh chống phá ấp chiến lược

2.4.5. Đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963

2.4.6. Đấu tranh chống dư đảng Cần Lao, chống các chính quyền độc tài sau cuộc đảo chính 01-11-1963 (từ ngày 1-11-1963 đến ngày 8-3-1965) và đồng khởi ở đồng bằng cuối năm 1964 đầu năm 1965

3. CHƯƠNG 3: ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở HỘI AN (QUẢNG NAM) TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC GIAI ĐOẠN 1965 - 1975

3.1. Chính sách của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Hội An giai đoạn 1965 - 1975

3.1.1. Về chính trị - quân sự

3.1.2. Về kinh tế - xã hội

3.1.3. Về văn hóa - giáo dục

3.2. Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng các cấp về đấu tranh chính trị ở Hội An giai đoạn 1965 - 1975

3.2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng

3.2.2. Chủ trương của Liên Khu ủy V

3.2.3. Chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Đà

3.2.4. Chủ trương của Thị ủy Hội An

3.3. Nội dung đấu tranh chính trị ở Hội An (Quảng Nam) giai đoạn 1965 - 1975

3.3.1. Đòi thành lập chính phủ dân sự

3.3.2. Đấu tranh chính trị trong Xuân Mậu Thân (1968)

3.3.3. Đòi dân sinh, dân chủ

3.3.4. Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris (27-1-1973)

3.3.5. Đấu tranh chính trị trong Xuân 1975

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở HỘI AN (QUẢNG NAM) TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)

4.1. Về tính chất

4.1.1. Tính chất dân tộc

4.1.2. Tính chất dân chủ, dân sinh

4.2. Về đặc điểm

4.2.1. Thu hút hầu hết các thành phần xã hội tham gia

4.2.2. Hình thức, biện pháp đấu tranh phong phú, linh hoạt và quyết liệt

4.2.3. Tích cực hưởng ứng và phối hợp với các địa phương khác trong đấu tranh

4.3. Về ý nghĩa lịch sử

4.3.1. Góp phần nâng cao giác ngộ chính trị đối với các tầng lớp nhân dân

4.3.2. Làm rối loạn hậu phương và suy giảm thế lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng phát triển

4.4. Về bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An 1954 1975

Đấu tranh chính trị tại Hội An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) là một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Hội An, với vị trí địa lý chiến lược, đã trở thành một điểm nóng trong cuộc chiến tranh. Nhân dân nơi đây đã tham gia vào nhiều phong trào đấu tranh, thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình hình chính trị tại Hội An mà còn phản ánh bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn của cuộc kháng chiến.

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của Hội An trước 1954

Hội An có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và xã hội. Trước năm 1954, nơi đây đã có truyền thống yêu nước mạnh mẽ, với nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và tinh thần yêu nước đã tạo ra nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị sau này.

1.2. Vai trò của Hội An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Hội An không chỉ là một địa bàn chiến lược mà còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh chính trị sôi nổi. Nhân dân Hội An đã tham gia vào các phong trào đòi thi hành Hiệp định Genève, chống chính sách 'tố Cộng', và nhiều hoạt động khác nhằm khẳng định quyền lợi và tự do của mình.

II. Những Thách Thức Trong Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An

Trong giai đoạn 1954-1975, Hội An phải đối mặt với nhiều thách thức lớn từ chính quyền Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Các chính sách đàn áp, kiểm soát thông tin và quân sự hóa đã tạo ra môi trường khó khăn cho các hoạt động đấu tranh. Tuy nhiên, chính những thách thức này đã thúc đẩy tinh thần đoàn kết và sáng tạo trong đấu tranh của nhân dân.

2.1. Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm

Chính quyền Mỹ và Ngô Đình Diệm đã áp dụng nhiều chính sách đàn áp nhằm kiểm soát tình hình tại Hội An. Những biện pháp này không chỉ gây khó khăn cho nhân dân mà còn làm gia tăng sự phản kháng và quyết tâm đấu tranh của họ.

2.2. Hình thức đấu tranh và phản kháng của nhân dân

Nhân dân Hội An đã sử dụng nhiều hình thức đấu tranh phong phú, từ biểu tình, bãi công đến các hoạt động tuyên truyền. Những hình thức này không chỉ thể hiện sự kiên cường mà còn tạo ra sức ép lớn lên chính quyền.

III. Phương Pháp Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An

Để đối phó với các thách thức, nhân dân Hội An đã áp dụng nhiều phương pháp đấu tranh chính trị hiệu quả. Sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và chính trị đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thành công của cuộc kháng chiến.

3.1. Sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và chính trị

Đấu tranh chính trị tại Hội An không thể tách rời khỏi đấu tranh quân sự. Sự phối hợp này đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp nhân dân vượt qua nhiều khó khăn và thách thức.

3.2. Tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh

Các tổ chức chính trị và xã hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo phong trào đấu tranh. Sự lãnh đạo sáng suốt và quyết đoán đã giúp nhân dân Hội An duy trì tinh thần đấu tranh và đạt được nhiều thành công.

IV. Kết Quả Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An

Kết quả của cuộc đấu tranh chính trị tại Hội An trong giai đoạn 1954-1975 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Những thành công này không chỉ góp phần vào cuộc kháng chiến chung mà còn tạo ra những bài học quý giá cho các thế hệ sau.

4.1. Thành tựu trong đấu tranh chính trị

Nhân dân Hội An đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong đấu tranh chính trị, từ việc đòi thi hành Hiệp định Genève đến việc chống lại các chính sách đàn áp của chính quyền. Những thành tựu này đã góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau

Cuộc đấu tranh chính trị tại Hội An đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Những bài học này không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử mà còn có thể áp dụng cho các cuộc đấu tranh hiện nay.

V. Tương Lai Của Đấu Tranh Chính Trị Tại Hội An

Nhìn về tương lai, đấu tranh chính trị tại Hội An vẫn tiếp tục có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những giá trị lịch sử và truyền thống yêu nước sẽ là nền tảng cho các thế hệ tiếp theo.

5.1. Giá trị lịch sử và văn hóa của Hội An

Hội An không chỉ là một địa điểm du lịch nổi tiếng mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị này là rất cần thiết cho tương lai.

5.2. Đấu tranh chính trị trong bối cảnh hiện đại

Trong bối cảnh hiện đại, đấu tranh chính trị tại Hội An cần được tiếp tục phát huy. Những bài học từ quá khứ sẽ là nguồn động lực cho các thế hệ trẻ trong việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đấu tranh chính trị ở Hội An ĐTCT là một đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước khi tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của nhân dân Việt Nam nói chung và Hội An nói riêng. Liên quan đến nội dung luận án đã có khá nhiều công trình đề cập. Có thể chia các công trình nghiên cứu về ĐTCT vào một số nhóm sau: 1.

Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Về ĐTCT và vai trò của ĐTCT trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) nhiều công trình đã đề cập, phản ánh, trong đó có thể và cần phải kể đến như: Lê Duẩn (1976), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội. Công trình phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về chiến tranh nhân dân và tổng kết kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về chỉ đạo ĐTCT. Về phương pháp cách mạng, Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Khái quát chung lại, có thể nói bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng: Lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, và bao gồm hai hình thức đấu tranh: ĐTQS, ĐTCT và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy” [31, tr. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Lịch sử Đảng (1993), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Công trình đã đề cập đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975); phân tích âm mưu, biện pháp của Mỹ và CQSG đối với cách mạng miền Nam; điểm một số phong trào ĐTCT tiêu biểu như phong trào đòi thi hành Hiệp định Genève (1954-1956); đồng khởi (1959-1960); phá ACL (1961-1963); đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo (1963); chống “Hiến chương Vũng Tàu” (1964); chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ (1966),… Trong phần bài học kinh nghiệm, công trình đánh giá cao vai trò của ĐTCT đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: “Phong trào ĐTCT của 7 đông đảo quần chúng có sức tiến công và tạo ra thế uy hiếp địch rất to lớn; các đoàn thể quần chúng cách mạng thực sự là những đội quân ĐTCT chống địch ở khắp nông thôn và thành thị”; vì vậy“thường xuyên chú trọng việc xây dựng LLCT” là bài học lớn đối với cách mạng miền Nam thời kỳ 1954-1975 [75, tr. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, chủ yếu đề cập những vấn đề lý luận về ĐTCT trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) như cơ sở, vai trò, hình thức, nghệ thuật tiến hành và mối quan hệ với ĐTQS. Về vai trò của ĐTCT, công trình khẳng định: “ĐTCT của quần chúng cũng là một hình thức đấu tranh cơ bản có tác dụng quyết định trong tất cả các giai đoạn phát triển của cách mạng miền Nam và đối với thắng lợi của cuộc chống Mỹ, cứu nước” [5, tr. 153]; về sự kết hợp giữa ĐTCT với ĐTQS, công trình khẳng định rằng: “Kết hợp hai mặt ĐTQS và ĐTCT là vấn đề cơ bản có tính quy luật trong phương pháp cách mạng miền Nam, đồng thời là đặc điểm nổi bật tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ” [5, tr.

Bộ Tư lệnh Quân Khu V - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu V trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), NXB Quân đội Nhân dân (QĐND), Hà Nội. Công trình đề cập điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến ĐTCT cùng một số phong trào ĐTCT nổi bật như phong trào đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963, phong trào chống độc tài, quân phiệt Nguyễn Khánh - Trần Văn Hương những năm 1964-1965, phong trào chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ năm 1966 ở địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng, Đà Lạt;. cùng với đó, chủ trương chỉ đạo ĐTCT của Liên Khu ủy V và kinh nghiệm ĐTCT của nhân dân Khu V cũng được tổng kết khá rõ. Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.

Công trình tập hợp các bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về chính trị, chiến tranh nhân dân,. Qua đó, nhiều vấn đề lý luận về ĐTCT, mối quan hệ giữa ĐTCT với ĐTQS đã được phân tích làm rõ. Cũng trong công trình này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra định nghĩa về ĐTCT: “ĐTCT ở đây nói theo nghĩa hẹp để 8 phân biệt với ĐTVT, nghĩa là các hình thức đấu tranh của đông đảo quần chúng nhân dân không cầm vũ khí như bãi công, bãi chợ, bãi khóa, mít tinh, biểu tình, thị uy,. Dựa vào sức mạnh của chính nghĩa và lực lượng đoàn kết, có tổ chức của đông đảo quần chúng, các cuộc đấu tranh này thông thường được tiến hành trong điều kiện hợp pháp, nửa hợp pháp hoặc biến thế bất hợp pháp thành thế hợp pháp cách mạng, nhằm đạt mục đích nhất định về chính trị, kinh tế, văn hóa hoặc có khi cả về quân sự” [64, tr.

Trần Văn Giàu (2006), Tổng tập, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội. Bộ sách gồm hai phần. Trong đó phần thứ hai “Miền Nam giữ vững thành đồng” là bức tranh về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta từ năm 1954 đến năm 1970 trên mọi mặt trận. Trong đó ĐTCT của nhân dân miền Nam gồm những phong trào tiêu biểu như đòi thi hành HĐ Genève (1954); phong trào đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963; phong trào chống Mỹ, chống Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ những năm 1965-1968; phong trào đòi thi hành HĐ Paris (1973).

Bên cạnh đó, tác giả phân tích đặc điểm đời sống kinh tế, xã hội ở đô thị miền Nam từ khi Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965); coi chính sách thực dân mới của Mỹ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bùng phát các phong trào ĐTCT, bởi “sự có mặt quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam là một sự xâm phạm thô bạo chủ quyền độc lập của nhân dân ta, nó kích động mạnh mẽ tinh thần dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân, kể cả binh sĩ và nhân viên ngụy quyền” [67, tr. Lê Cung (2008), Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963, in lần thứ 4, Nxb Thuận Hóa, Huế. Có thể nói “đây là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và hoàn chỉnh về phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963” [27, tr. Không những thế, những sử liệu và kiến giải của tác giả là cơ sở quan trọng giúp việc tìm hiểu, nghiên cứu về phong trào Phật giáo năm 1963 trên từng địa bàn cụ thể ở miền Nam thuận lợi hơn.

Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (gồm 9 tập), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình phản ánh một cách toàn diện và sinh động về nguyên nhân, diễn biến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) qua từng giai đoạn và các bước ngoặt quan trọng. Về ĐTCT, công trình đề cập đến các phong trào tiêu biểu của nhân dân miền Nam, từ phong trào đòi thi hành HĐ Genève, bảo vệ hòa bình (1954-1956), chống “tố 9 Cộng” (1955-1959),… đòi thi HĐ Paris 1973. Ngoài ra, ở tập 9 “Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử”, công trình khẳng định vai trò to lớn của ĐTCT: “ĐTCT đã được nâng lên thành một nghệ thuật trong việc chống chính sách xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ.

Khi khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh và khởi nghĩa gắn quyện vào nhau thì ĐTCT mà hình thức cao là sự nổi dậy của quần chúng luôn luôn kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng với ĐTQS, tạo thế và trợ giúp đắc lực cho ĐTQS” [13, tr. Lê Cung (2014), Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam (1964-1968), NXB Thuận Hóa. Đây được xem như là một sự tiếp nối công trình “Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963”. Trong công trình này, tác giả trình bày phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam những năm 1964-1968 qua ba giai đoạn: Giai đoạn từ sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1-11-1963) đến trước ngày chế độ quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ được thành lập (19-6-1965); giai đoạn từ khi chế độ quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ được thành lập (19-6-1965) đến sự kiện “Bàn Phật xuống đường” kết thúc (21-6-1966); giai đoạn từ sự kiện “Bàn Phật xuống đường” kết thúc (21-6-1966) đến sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968).

Ngoài ra, công trình cũng làm rõ tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam giai đoạn 1964-1968. Về các bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí và kỷ yếu hội thảo khoa học, có thể kể đến như: Trần Bạch Đằng (2005), “Chung một bóng cờ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12. Bài viết khẳng định, kết hợp bốn hình thức đấu tranh: Chính trị, vũ trang, binh vận, ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp là vấn đề thuộc về phương châm chiến lược và phương pháp cách mạng; có lúc hình thức này giữ vai trò chủ yếu, hình thức khác hỗ trợ, song về cơ bản, phong trào cách mạng miền Nam là phong trào chính trị theo nghĩa rộng, là cuộc đấu tranh của đông đảo quần chúng. Đặc biệt, bài viết chỉ ra những hệ quả ngoài ý muốn của Mỹ và CQSG khi chủ trương lùa dân vào các khu tập trung, thị trấn, ven trục lộ, quanh đồn bốt để dễ kiểm soát, bóc lột và bắt lính.

Hệ quả đó là: “Tập trung đông người nảy sinh những vấn đề xã hội, kinh tế, tạo ra mâu thuẫn từng giờ, từng phút giữa bộ máy cầm quyền với nhân dân từ cái ăn, cái mặc, cái ở, học hành, sản xuất,. tạo điều kiện cho một số người trước đây chỉ hiểu Mỹ và CQSG từ xa, còn mơ hồ, nay hằng ngày tận mắt nhận rõ các tồi tệ; tạo cơ hội cho 10 dân tiếp xúc với nhau dễ dàng hơn, thông tin nhanh hơn, liên kết đấu tranh thuận tiện hơn” [80].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ