Luận văn: Thực trạng và giải pháp sử dụng đất nông nghiệp vùng cát ven biển Quảng Ninh

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp vùng cát ven biển Quảng Ninh. Đánh giá hiệu quả các mô hình kinh tế sinh thái.

Chuyên ngành

Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực trạng đất cát ven biển Quảng Ninh hiện nay

Quảng Ninh sở hữu đường bờ biển dài, kéo theo đó là một quỹ đất cát ven biển rộng lớn, ẩn chứa nhiều tiềm năng nhưng cũng đầy thách thức. Việc đánh giá chính xác thực trạng của loại tài nguyên này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các định hướng phát triển bền vững. Thực tế cho thấy, tài nguyên đất ven biển tại đây đang đối mặt với nhiều áp lực từ quá trình đô thị hóa, biến đổi khí hậu và các hoạt động kinh tế. Hiểu rõ đặc điểm, sự phân bố và hiện trạng sử dụng là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả, bảo vệ hệ sinh thái ven biển và nâng cao đời sống người dân.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và phân bố tài nguyên đất cát

Dải đất cát ven biển Quảng Ninh có đặc điểm địa hình không đồng nhất, bao gồm các cồn cát, đụn cát cao xen kẽ với các trảng cát bằng phẳng. Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là cát thô, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém. Theo các khảo sát, hàm lượng chất hữu cơ và các cation kiềm trao đổi trong đất đều ở mức rất thấp. Điều này gây khó khăn lớn cho việc canh tác đất nông nghiệp ven biển. Vùng đất này phân bố chủ yếu tại các địa phương như Móng Cái, Vân Đồn, Tiên Yên, và Uông Bí, nơi có các hoạt động kinh tế gắn liền với biển. Việc nhận diện đúng các tiểu vùng sinh thái là tiền đề cho quy hoạch sử dụng đất Quảng Ninh một cách hợp lý, tránh lãng phí tài nguyên.

1.2. Hiện trạng sử dụng đất và các mô hình kinh tế

Hiện nay, hiệu quả sử dụng đất cát ven biển Quảng Ninh chưa đồng đều. Một phần diện tích được sử dụng cho trồng rừng phòng hộ (chủ yếu là phi lao, keo) để chắn gió, cố định cát. Một phần khác được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản trên đất cát, đặc biệt là nuôi tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, phần lớn diện tích vẫn là đất hoang hóa ven biển hoặc sử dụng kém hiệu quả. Các mô hình kinh tế ven biển còn mang tính tự phát, thiếu liên kết và chưa tối ưu hóa được lợi thế. Các mô hình như nông-lâm kết hợp hay lâm-ngư bãi triều, dù đã được chứng minh hiệu quả ở các vùng tương tự, vẫn chưa được áp dụng rộng rãi tại đây.

II. Các thách thức lớn trong quản lý đất cát ven biển Quảng Ninh

Việc khai thác và sử dụng đất cát ven biển tại Quảng Ninh đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các vấn đề này không chỉ đến từ đặc tính tự nhiên cố hữu của đất mà còn bị khuếch đại bởi các yếu tố bên ngoài như biến đổi khí hậu và áp lực phát triển kinh tế. Nếu không có các giải pháp đồng bộ và kịp thời, nguy cơ suy thoái tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường và sinh kế bền vững của người dân là rất lớn. Việc phân tích sâu các thách thức này là cơ sở để xây dựng các chiến lược ứng phó phù hợp và hiệu quả.

2.1. Tác động của biến đổi khí hậu Quảng Ninh và xâm nhập mặn

Tác động của biến đổi khí hậu Quảng Ninh ngày càng rõ rệt, biểu hiện qua tần suất và cường độ của bão, lũ, và hạn hán. Mực nước biển dâng cao làm gia tăng hiện tượng xâm nhập mặn vào các vùng cửa sông và tầng nước ngầm. Điều này trực tiếp làm suy thoái chất lượng đất, gây khó khăn cho các hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường, nhiều khu vực ven biển đã ghi nhận độ mặn trong đất và nước ngầm vượt ngưỡng cho phép, đe dọa trực tiếp đến các mô hình canh tác truyền thống.

2.2. Nguy cơ sa mạc hóa và tình trạng đất hoang hóa ven biển

Do đặc tính nghèo dinh dưỡng, kết cấu rời rạc và khả năng giữ nước kém, đất cát rất nhạy cảm với các tác động tiêu cực. Việc khai thác tài nguyên quá mức, phá rừng phòng hộ để xây dựng hoặc canh tác không hợp lý đang đẩy nhanh quá trình thoái hóa. Tình trạng đất hoang hóa ven biển ngày càng gia tăng, tạo điều kiện cho hiện tượng "cát bay, cát nhảy". Đây là dấu hiệu ban đầu của quá trình chống sa mạc hóa thất bại. Nếu không có biện pháp can thiệp, các vùng đất này có thể bị sa mạc hóa cục bộ, gây mất đất sản xuất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống.

2.3. Bất cập trong chính sách đất đai và quy hoạch

Mặc dù đã có những nỗ lực, công tác quy hoạch sử dụng đất Quảng Ninh vẫn còn một số bất cập. Quy hoạch đôi khi chạy theo các dự án phát triển kinh tế ngắn hạn, chưa thực sự chú trọng đến yếu tố bền vững và bảo vệ môi trường. Các chính sách đất đai Quảng Ninh chưa có đủ cơ chế khuyến khích mạnh mẽ để người dân và doanh nghiệp đầu tư vào việc cải tạo đất cát ven biển một cách bài bản. Sự chồng chéo trong quản lý giữa các ngành (nông nghiệp, xây dựng, du lịch) cũng tạo ra những xung đột trong việc sử dụng đất, làm giảm hiệu quả tổng thể.

III. Phương pháp cải tạo đất cát ven biển hiệu quả đã kiểm chứng

Để giải quyết các thách thức, việc áp dụng các giải pháp khoa học kỹ thuật vào cải tạo đất cát ven biển là yêu cầu cấp thiết. Các phương pháp này không chỉ nhằm mục đích nâng cao độ phì của đất mà còn hướng đến việc xây dựng một hệ sinh thái ổn định, có khả năng chống chịu tốt hơn với các yếu tố bất lợi. Dựa trên kinh nghiệm từ các nghiên cứu và dự án thực tiễn tại các vùng ven biển Việt Nam, có nhiều giải pháp đã được chứng minh mang lại hiệu quả cao, phù hợp để triển khai tại Quảng Ninh, góp phần vào phát triển bền vững vùng ven biển.

3.1. Kỹ thuật trồng cây trên đất cát để chống xói mòn

Giải pháp cơ bản và quan trọng nhất là trồng cây trên đất cát. Việc thiết lập các đai rừng phòng hộ ven biển với các loài cây chịu hạn, chịu mặn như phi lao, keo lá tràm, tràm hoa vàng... có tác dụng to lớn trong việc cố định cát, chắn gió, giảm tốc độ bốc hơi nước và cải thiện tiểu khí hậu. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp, việc xây dựng hệ thống vành đai phòng hộ đúng kỹ thuật có thể giúp tăng năng suất cây trồng nông nghiệp bên trong lên 15-20%. Ngoài ra, thảm thực vật còn giúp tăng cường tích lũy mùn, bước đầu cải tạo cấu trúc và độ phì của đất.

3.2. Biện pháp bón phân hữu cơ và che phủ đất

Đất cát có đặc tính nghèo hữu cơ trầm trọng. Vì vậy, việc bổ sung các nguồn phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, than bùn) là biện pháp cải tạo nền tảng. Phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng mà còn cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng giữ nước và kích thích hệ vi sinh vật đất phát triển. Kết hợp với đó, kỹ thuật che phủ đất bằng rơm rạ, tàn dư thực vật hoặc màng phủ nông nghiệp giúp hạn chế xói mòn do gió và nước, duy trì độ ẩm, và ngăn chặn cỏ dại. Đây là các biện pháp kỹ thuật then chốt để phục hồi đất nhiễm mặn Quảng Ninh và các vùng đất thoái hóa khác.

IV. Hướng dẫn phát triển các mô hình kinh tế ven biển bền vững

Trên nền tảng đất đã được cải tạo, việc lựa chọn các mô hình kinh tế ven biển phù hợp sẽ quyết định đến hiệu quả kinh tế và tính bền vững lâu dài. Thay vì khai thác đơn lẻ, xu hướng hiện nay là phát triển các mô hình tích hợp, đa mục tiêu, tận dụng tối đa lợi thế của hệ sinh thái ven biển đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Các mô hình này không chỉ tạo ra thu nhập cao mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới một nền kinh tế xanh và tuần hoàn.

4.1. Mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất cát công nghệ cao

Mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất cát là một hướng đi mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Đặc biệt, nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh trên ao lót bạt đang được áp dụng thành công. Theo kết quả khảo sát tại các vùng tương tự, mô hình này có thể cho giá trị sản xuất lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi hecta. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần áp dụng công nghệ cao, quản lý chặt chẽ nguồn nước, xử lý chất thải để tránh ô nhiễm môi trường. Việc kết hợp nuôi tôm với trồng rừng ngập mặn (mô hình lâm-ngư) cũng là một giải pháp hay để cân bằng sinh thái và tăng thêm thu nhập.

4.2. Phát triển nông lâm kết hợp và du lịch sinh thái

Mô hình nông-lâm kết hợp, tức trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày (lạc, dưa hấu, khoai lang) trong các khu rừng trồng phòng hộ, giúp tận dụng đất đai và tạo thêm thu nhập cho người dân trong giai đoạn chờ thu hoạch gỗ. Bên cạnh đó, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Quảng Ninh là rất lớn. Việc bảo vệ và phục hồi các cảnh quan cồn cát, bãi biển hoang sơ, rừng ngập mặn... để kết hợp khai thác du lịch trải nghiệm, nghỉ dưỡng là hướng đi bền vững. Mô hình này vừa tạo ra giá trị kinh tế cao, vừa nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng.

4.3. Khai thác tiềm năng năng lượng tái tạo ven biển

Vùng ven biển Quảng Ninh có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo ven biển, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời. Việc quy hoạch các khu vực đất cát hoang hóa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp để xây dựng các trang trại điện gió, điện mặt trời là một giải pháp "một công đôi việc". Nó không chỉ cung cấp nguồn năng lượng sạch, góp phần vào an ninh năng lượng quốc gia, mà còn tạo ra việc làm và nguồn thu ngân sách ổn định cho địa phương. Đây là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xanh của tỉnh, đặc biệt tại các khu vực như đặc khu kinh tế Vân Đồn.

V. Vai trò của chính sách trong tối ưu hóa sử dụng đất ven biển

Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật và mô hình kinh tế, vai trò của cơ chế, chính sách là yếu tố quyết định, tạo ra môi trường thuận lợi để các giải pháp được triển khai trên diện rộng. Một hệ thống chính sách đồng bộ, minh bạch và có tầm nhìn dài hạn sẽ là đòn bẩy thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên đất ven biển một cách hiệu quả và bền vững. Các chính sách này cần bao quát từ khâu quy hoạch, quản lý, đến hỗ trợ đầu tư và phát triển thị trường, tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế cùng tham gia.

5.1. Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất tích hợp đa ngành

Cần xây dựng một bản quy hoạch sử dụng đất Quảng Ninh tích hợp, có sự tham gia của nhiều ngành (nông nghiệp, xây dựng, du lịch, công thương, tài nguyên-môi trường). Quy hoạch này phải dựa trên cơ sở phân vùng sinh thái, đánh giá tiềm năng và mức độ thích hợp của từng loại đất. Cần xác định rõ các khu vực ưu tiên cho bảo vệ (rừng phòng hộ, khu bảo tồn), khu vực cho sản xuất (nông nghiệp, thủy sản công nghệ cao), và khu vực cho phát triển (đô thị, du lịch, năng lượng tái tạo). Sự rõ ràng trong quy hoạch sẽ hạn chế xung đột và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất.

5.2. Các chính sách đất đai Quảng Ninh cần được đổi mới

Hệ thống chính sách đất đai Quảng Ninh cần được bổ sung các cơ chế khuyến khích cụ thể. Ví dụ, chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho các hộ dân, doanh nghiệp đầu tư vào cải tạo đất cát ven biển; chính sách miễn, giảm tiền thuê đất cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo ven biển hoặc du lịch sinh thái. Đồng thời, cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai để thu hút đầu tư, đặc biệt là tại các khu vực có tiềm năng lớn như đặc khu kinh tế Vân Đồn.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về đất đai Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một nhân tố sinh thái (FAO, 1976).

Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Như vậy, đất được hiểu như một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: (khí hậu, địa mạo/địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người). [1] “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt như: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá,…. [2] “Đất đai là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một phần diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kì có thể dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động thực vật, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó của con người trong hiện tại và tương lai”.

Từ các định nghĩa trên, đất đai được hiểu là: Đất đai là một vùng đất có vị trí cụ thể, có ranh giới và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, địa chất/địa mạo, thủy văn, động thực vật và các hoạt động sản xuất của con người.2 Khái niệm về đánh giá đất đai - Đánh giá đất đai là so sánh, đánh giá khả năng của đất theo từng khoanh đất vào độ màu mỡ và khả năng sản xuất của đất. - Theo Sôbôlev: đánh giá đất là học thuyết về sự đánh giá có tính chất so sánh chất lượng đất của các vùng đất khác nhau mà ở đó thực vật sinh trưởng và phát triển. - Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất chuyên canh về hiệu suất của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu thời tiết, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên…) và thuộc tính của chính đất đai tạo nên. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Đánh giá đất đai chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực một vùng có điều kiện tự nhiên (trừ yếu tố đất), điều kiện kinh tế xã hội như nhau.

- Theo FAO (1976) đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu.[6] Trong sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đất nông nghiệp được dựa theo các yếu tố đánh giá đất với những mức độ khác nhau. Mức độ khác nhau của các yếu tố đánh giá đất được tính toán dựa trên những cơ sở khách quan, phản ánh các thuộc tính của đất và mối tương quan giữa chúng với năng suất cây trồng trong nhiều năm. Nói cách khác, đánh giá đất đai trong sản xuất nông nghiệp thường dựa vào chất lượng (độ phì tự nhiên và độ phì hữu hiệu) của đất và mức sản phẩm mà độ phì đất tạo nên. [3] Trong đánh giá đất đai có hai khái niệm cụ thể như sau: - Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đất đai: Là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, ngập úng, khô hạn, …Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp.

- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai. Khái niệm về loại hình sử dụng đất (LUT) LUT là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định. LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định. [4] Trong sản xuất nông nghiệp, loại hình sử dụng đất được hiểu khái quát là hình thức sử dụng đất đai để sản xuất hoặc phát triển một nhóm cây trồng, vật nuôi trong một chu kỳ hoặc chu kỳ nhiều năm.

Ngoài ra, LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất. Khái niệm về nông lâm kết hợp Định nghĩa về nông lâm kết hợp (NLKH) hiện nay đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, định nghĩa đó như sau: Nông lâm kết hợp bao gồm các hệ canh tác sử dụng đất khác nhau; trong đó, các loài cây thân gỗ sống lâu năm (bao gồm cả cây bụi thân gỗ, các loài cây trong họ dừa và họ tre, nứa) được trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác, đã được quy hoạch trong sản xuất Nông nghiẹp, Lâm nghiệp, chăn nuôi hoặc thuỷ sản. Chúng được kết hợp với nhau hợp lý trong không gian, hoặc theo trình tự về thời gian. Giữa chúng luôn có tác động qua lại lẫn nhau cả về phương diện sinh thái, kinh tế theo hướng có lợi [5].

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Như vậy, Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học độc lập. Nó được hình thành và xây dựng trên cơ sở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, có liên quan đến các phương thức sử dụng đất đai như nghề làm ruộng, nghề chăn nuôi, nghề làm rừng, nghề làm vườn, nghề nuôi trồng thuỷ sản, thậm chí cả nghề nuôi ong. - Nông lâm kết hợp dưới giác độ sinh thái và môi trường Trong lâm nghiệp, chúng ta thường xuyên phải đối phó với những thử thách về tài nguyên và môi trường. để sử dụng bền vững đất đai vùng đồi núi (đất dốc), vùng bãi ven sông, ven biển… các mô hình Nông lâm kết hợp trong các hệ canh tác Nông lâm kết hợp, ngoài chức năng sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn cho gia súc và gỗ củi.

[7] còn phải thực hiện tốt chức năng phòng hộ để sản xuất có năng suất cao và bền vững, lại không ảnh hưởng xấu tới môi trường, đồng thời, trong quá trình sử dụng đất theo phương thức Nông lâm kết hợp, các tính chất và độ phì của đất phải không ngừng được cải thiện và nâng cao. Do đó, phải luôn cố gắng tạo ra độ che phủ mặt đất bằng các tán lá thực vật, càng cao càng tốt, đặc biệt trong mùa mưa. Lớp phủ thực vật càng nhiều tầng càng tốt, vừa có tác dụng chống xói mòn đất có hiệu quả, vừa sử dụng tốt nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời dồi dào ở vùng nhiệt đới; rễ các cây trồng nông nghiệp và các cây gỗ sống lâu năm cần được phân bổ hợp lý từ tầng đất mặt tới các tầng đất sâu hơn; canh tác các cây trồng ngắn ngày ở vùng đồi núi, nhất thiết phải bố trí theo các băng cắt ngang sườn dốc, kết hợp với sự bố trí cây lâu năm, tạo thành các băng cây xanh chạy theo đường đồng mức, để chặn dòng chảy trên mặt đất, giữ đất giữ nước,. các mô hình Nông lâm kết hợp cần được sắp xếp hợp lý trong không gian rộng, dựa trên các yêu cầu khác nhau của các loại hình canh tác về tính chất và độ phì của đất, mức độ đầu tư kỹ thuật và tác dụng phòng hộ bảo vệ đất nước, để sử dụng có hiệu quả độ phì của đất, cây trồng có năng suất cao và ổn định.

- Nông lâm kết hợp dưới giác độ hợp lý trong khai thác tài nguyên Canh tác NLKH là một phương thức sử dụng đất đai tốt nhất. Nó có ý nghĩa cách mạng trong vấn đề sử dụng đất bền vững ở Việt Nam. Khác với phương thức sử dụng đất đai đơn thuần trong Nông lâm nghiệp và chăn nuôi trước đây: Canh tác NLKH đã sử dụng hợp lý, tối ưu độ phì của đất, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì của đất, mở rộng được diện tích đất canh tác nông nghiệp một cách vững chắc ở những vùng đất đai có nhiều khó khăn. Bởi vậy, canh tác NLKH đã tạo nên một nền sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, chăn thả thịnh vượng, phong phú, có năng suất cao và ổn định, với nhiều sản phẩm hàng hoá; bảo vệ được tính đa dạng sinh học của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam.

[8] Phát triển Nông lâm kết hợp là quá trình phát triển sản xuất trong lĩnh vực Nông lâm nghiệp PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Đó là sự gia tăng về số lượng nông lâm, thuỷ sản, đồng thời, hoàn thiện về cơ cấu: Chất lượng sản phẩm tốt hơn; quy mô diện tích lớn hơn phù hợp với yêu cầu của sự phát triển; chủng loại cây, con và sản phẩm đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người; tạo ra nhiều ngành nghề bổ trợ kết hợp thành một quy trình sản xuất khép kín (như sản xuất – thu mua - chế biến); khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đồng thời, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống. Phát triển Nông lâm kết hợp có các hướng phát triển như sau: + Phát triển Nông lâm kết hợp theo hướng kinh tế hộ (hộ canh tác NLKH đơn thuần) Hộ canh tác NLKH đơn thuần là các nông hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ