CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG Ở ĐẠI HỌC VIỆT NAM 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Con người sinh ra vốn có nhu cầu phát triển và thăng tiến, một trong số đó là khả năng tìm kiếm việc làm thích hợp trong một xã hội đa dạng. Việc cải thiện việc làm, thay đổi công việc trong quá trình lao động của người lao động là quy luật tất yếu trong một xã hội phát triển, và đào tạo liên thông (ĐTLT) nhằm phục vụ cho quy luật đó sẽ hoàn toàn có cơ sở đề hình thành và phát triển. Đào tạo liên thông trên thế giới Trên thế giới, đào tạo liên thông đã hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Singapore.Các quốc gia này đang nỗ lực gắn chặt hơn nữa giáo dục và đào tạo với thị trường lao động qua chính sách "từ trường học đến việc làm".
Chính vì vậy, quá trình liên thông trong đào tạo có thể xem như một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu nói trên. * Tại Hoa kỳ: Đào tạo liên thông đã hình thành và phát triển ở những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Ở đây, người ta chia yêu cầu về trình độ ra ba mức: Mức 1: Mức thấp nhất (entry level) cho công nhân. Mức 2: Mức nâng cao (advanced level) cho cán bộ kỹ thuật.
Mức 3: Mức chuyên nghiệp (professional level) cho kỹ sư. Mỗi mức đều chỉ ra những yêu cầu cụ thể, học sinh phải đạt được chuẩn và hướng dẫn chương trình kèm theo ở mỗi bậc học. Trên cơ sở đó thực hiện liên thông (articulation and credits transfes) giữa các bậc học. * Tại Australia: Khung trình độ chuẩn chia làm các bậc: Chứng chỉ cấp 1, chứng chỉ cấp II, chứng chỉ cấp III; chứng chỉ cấp IV; sau trung học phổ thông - Diploma (tương đương bằng TCCN của nước ta); Cao đẳng - Advance diploma (tương đương bằng cao đẳng nước ta); đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
14 z Mỗi bậc học đều có khung chương trình chuẩn, nêu lên nhứng khác biệt năng lực nghề nghiệp hoặc trình độ yêu cầu mỗi bậc học thuộc hệ thồng TAFE (Technical and Further Education). Căn cứ váo khung trình độ quốc gia, hầu hết các trường đại học đều có chính sách thỏa thuận công nhận tín chỉ ở bậc học dưới. Để có thể liên thông giữa các bậc học thì cần thiết phải có bằng diploma hoặc advance diploma để liên thông lên đại học và trên đại học. Trong chính sách liên thông có hướng dẫn chi tiết về những điều kiện để học sinh có thể vào học một hoặc một vài khóa học trong nhà trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho họ có thể theo học.
Trên cơ sở hợp tác giữa các trường chuyên nghiệp và các trường đại học, những chi tiết cụ thể về thỏa thuận chuyển tín chỉ sẽ do khoa ở các trường chịu trách nhiệm ban hành. Cơ quan quản lí cao nhất ở các bậc học này là AVCC (Australia Vice- Chancallorss Committee) phụ trách khối đại học và ANTA (Australia National Training Authorrity) chịu trách nhiệm trong khối giáo dục kĩ thuật và nghề nghiệp (Vocationnal Education and Training - VET) trong việc ban hành quy định , những nguyên tắc và chỉ dẫn điều hành mang tính hệ thống về đào tạo liên thong đối với các bậc học * Tại Canada: Đào tạo liên thông cũng tiến hành từ thập niên 60 của thế kỷ XX với các hình thức giống như Mỹ và Australia. Liên thông thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các hệ thống, cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo. Bộ giáo duc British Colombia (Canada) tham gia quản lí nhà nước trong đào tạo liên thông để đảm bảo chất lượng đào tạo và công bố những văn bản hướng dẫn để cho quá trình liên thông diễn ra thuận lợi.
* Tại Đông Nam Á: Đào tạo liên thông còn tương đối mới nên còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong khu vực chỉ có Singapor là nước có chương trình đào tạo liên thông khá mềm dẻo, hiệu quả đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực. Sinh viên hoàn tất 1 bằng diploma về polytechnic có thể vào học hầu hết các khóa học ở bậc đại học với những chuyên ngành tương ứng. Trong khi đó, ở Thái Lan, những học sinh ở trường nghề rất ít cơ hội để vào đại học, đặc biệt là những trường đại học công.
15 z Đào tạo liên thông ở các nước trên thế giới đã được nghiên cứu và thực hiện từ lâu nên có những nguyên tắc, trình tự thực hiện và vấn đề tồn đọng riêng. Mỗi nước có 1 bài học khác nhau trong quá trình ĐTLT. Đào tạo liên thông tại Việt Nam Thực tế hiện nay đào tạo liên thông chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Công trình quốc gia nghiên cứu về đào tạo liên thông được ghi nhận đặc biệt vào 2008 đã có đề tài TS nghiên cứu liên quan đến vấn đề này của NCS Ngô Tấn Lực mã số 62140501 mang tên “Tổ chức quản lí đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng trong điều kiện Việt Nam”[24].
Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B96-49-29 mang tên “ Sự khác biệt và liên thông giữa hai cấp Đại học và Cao đẳng trong bậc giáo dục đại học” do Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam thực hiện (TS. Đỗ Công Vịnh - Chủ nhiệm đề tài) tháng 12 năm 1997[28] đã đề cập đến những cơ sở của việc đào tạo liên thông trong kỷ nguyên mới, những yêu cầu và điều kiện liên thông. Ngoài công trình nói trên, còn có một số nghiên cứu khác dưới dạng báo cáo, tham luận tại các hội thảo về đào tạo liên thông do Bộ Giáo Dục & Đào tạo tổ chức. Trong số các cuộc hội thảo về đào tạo liên thông phải kể đến hai cuộc hội thảo lớn do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2001 và tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 10/2001.
Hội thảo diễn ra với sự tham gia các đại biểu đại diện cho các Bộ, Ngành, Sở Giáo dục và Đào tạo, và các trường Đại học, Cao đẳng, THCN. Hội thảo đã tập trung thảo luận một số vấn đề : 1. Tính cấp thiết của việc tổ chức đào tạo liên thông. Ngành đào tạo cần liên thông và hình thức liên thông.
Bước đi và các điều kiện đảm bảo chất lượng. Những vấn đề khó khăn khi thực hiện đào tạo liên thông. Kinh nghiệm và đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong ĐTLT. Hội thảo đã xác định mục tiêu bao trùm của đào tạo liên thông là nhằm đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao, đa dạng và hiệu quả để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang phát triển.
16 z Trong khoảng chục năm nay trở lại đây, một số hình thức liên thông mới đã được một số trường áp dụng như: * Một số trường đại học cho phép sinh viên vào đại học và miễn trừ một số môn đã học ở một ngành khác (chủ yếu là các môn văn hóa) và thời gian học cũng vì thế mà có thể được rút ngắn. * Một số trường, được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục và Đào tạo như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Y - Dược. tiến hành đào tạo liên thông với hình thức là tiếp nhận những học sinh không đủ điểm tuyển vào đại học và học tại hệ Cao đẳng tại trường thi tuyển.
Sau khi tốt nghiệp cao đẳng được xét tuyển lên học đại học trong thời gian 3 đến 3,5 năm. Tổng thời gian để tốt nghiệp đại học là 6 đến 6,5 năm. * Một hình thức liên thông khác nữa cũng đã tồn tại nhiều năm khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chính sách đào tạo hai giai đoạn, cho phép học sinh học xong giai đoạn I ở trường này có thể chuyển sang học tiếp ở giai đoạn II ở một vài trường khác cũng khối ngành. Cách hình thức đào tạo liên thông nói trên có ưu điểm là giúp cho người học tận dụng hết năng lực và động cơ học tập để có thể học một lúc nhiều trường hoặc ở những trường mong đợi mà ban đầu chưa được vào học do điểm thi đầu vào thấp.
tuy nhiên các hình thức trên cũng đã bộc lộ những điểm yếu là : + Học sinh yếu học lực ở trường đòi hỏi học lực cao nên chất lượng học thấp. + Do có thể chuyển trường khi chuyển giai đoạn nên các trường thường bị động về lưu lượng học sinh. + Trong hầu hết các trường đào tạo liên thông vẫn chưa đinh rõ ràng chuẩn trình độ, chuẩn kỹ năng, chuẩn kiến thức ở mỗi bậc học mà học sinh tốt nghiệp cần phải có, vì vậy chương trình đào tạo xây dựng chựa thực sự hoàn chỉnh 17 z Trong thời gian qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, và đặc biệt nhận được sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Đào tạo liên thông tại Đại học Điện lực đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở ĐTLT từng bước được phát triển theo quy hoạch.
Các điều kiện bảo đảm chất lượng ĐTLT được cải thiện một bước như nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học liên thông đã được đầu tư, nâng cấp. Chất lượng và hiệu quả ĐTLT đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp luôn đạt 96%, khoảng 70% sinh viên ra trường tìm được việc làm. Sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị truờng lao động. Tuy nhiên vấn đề quản lý chất lượng đào tạo tại Đại học Điện lực trong nhiều năm qua chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
Chính vì vậy công tác quản lý chất lượng ĐTLT tại Đại học Điện lực là một trong các vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế trong khu vực. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, người ta xem quản lý như là một hoạt động khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng của con người xét từ góc độ phát triển của mỗi tổ chức cơ quan đến một quốc gia hay toàn thế giới.
Xung quanh khái niệm “quản lý”, các tác giả tiếp cận từ những góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều ý kiến đa dạng khác nhau.