phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm hai chƣơng, bốn tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: “ĐẠO HIẾU” TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CƠ BẢN 1. Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam 1. Sự ra đời và quá trình phát triển của Phật giáo Nếu gọi phƣơng Đông là cái nôi của nền văn minh nhân loại thì Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xƣa.
Đây là vùng đất thuộc Nam Châu Á với đặc điểm khí hậu đất đai đa dạng, khắc nghiệt cùng với sự án ngữ của vòng cung dãy Hy-Mã-Lạp-Sơn kéo dài hai ngàn ki-lô-mét. Yếu tố địa lý trên ảnh hƣởng sâu sắc tới quá trình hình thành văn hóa, tôn giáo và tƣ tƣởng triết học của ngƣời Ấn Độ cổ đại, trong đó có tƣ tƣởng triết học Phật giáo. Phật giáo xuất hiện ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nêpan) vào cuối thế kỷ thứ VI trƣớc công nguyên. Trong xã hội phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt, sự ra đời đạo Phật thể hiện tinh thần phản kháng của những ngƣời nghèo khổ mong tìm con đƣờng giải thoát cho riêng mình.
Thái tử Tất Đạt Đa Gô Ta Ma (Siddhartha Gauta - ma) - Ngƣời sáng lập ra Phật giáo vào khoảng năm 528 trƣớc công nguyên tại Ấn Độ. Thái tử Tất Đạt Đa ra đời vào năm 563 trƣớc công nguyên tại thị trấn Kapilavaster, ngày xƣa thuộc Ấn Độ, ngày nay thuộc miền nam xứ Nêpal. Thân sinh của thái tử là Suddhodhana, một tiểu vƣơng có thế lực và giàu sang của bộ tộc Shakya. Đến năm 18 tuổi, thái tử Tất Đạt Đa vâng lệnh vua cha, cƣới ngƣời em họ tên Yasodhara làm vợ.
Sau thời gian chung sống, hai vợ chồng có đƣợc một ngƣời con trai, đặt tên là La Hầu La. Cuộc sống trên nhung lụa trong hoàng cung không đem lại cho thái tử Tất Đạt Đa một sự thỏa lòng. Trái lại, thái tử luôn cảm thấy một sự trống rỗng khó chịu trong tâm hồn mình. Theo tục truyền, vào năm thái tử Tất Đạt Đa 29 tuổi, lúc đi dạo ngoài thành, thái tử gặp một cụ già, một ngƣời đau bệnh và nhìn thấy một xác chết.
Những điều này làm cho thái tử nhận ra cuộc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đời là “sinh, lão, bệnh, tử” và đời ngƣời chỉ là biển khổ nên thái tử quyết định từ giã gia đình vợ con, tiền tài và danh vọng để đi tìm ánh sáng cho cuộc đời. Trong nỗ lực tu luyện, thái tử Tất Đạt Đa tiếp xúc với các ẩn sĩ để tìm hiểu Ấn Độ giáo nhƣng không thỏa lòng về cách khổ tu của tôn giáo này. Sau đó, thái tử đi lên núi Tuyết Sơn với hy vọng áp dụng phƣơng pháp khổ tu sẽ đem lại cho chính mình sự giác ngộ. Một hôm, thái tử quyết định lìa bỏ nơi khổ tu để đi đến bờ sông Ni Liên, ở vùng Buddh Gaya, thuộc tỉnh Bihar.
Sau khi tắm rửa xong và uống một bát sữa do một cô gái chăn dê mang đến cho, thái tử quyết định ngồi thiền dƣới bóng cây bồ đề cho đến khi nào tìm ra đƣợc chân lý và sự siêu thoát. Đến ngày thứ 43, thái tử Tất Đạt Đa nhận thấy mình giác ngộ, tức là hiểu biết hết mọi bí mật của cuộc đời và vũ trụ. Sau đó thái tử Tất Đạt Đa tuyên bố đắc đạo và thành Phật. Nhƣ vậy, thái tử Tất Đạt Đa thành Phật năm 35 tuổi, lấy danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Sau khi đắc đạo, thái tử đi về miền sông Hằng thu thập thêm môn đệ và rao giảng phƣơng cách tu hành. Thái tử cho rằng nếu ai làm đúng theo lời giảng dạy của ngài đều có thể thành Phật. Phật giáo phát triển thịnh vƣợng ở Ấn Độ vào thế kỷ III trƣớc công nguyên. Ngay sau khi Phật tịch diệt, các học trò của ông tập hợp nhau lại tại thành Vƣơng Xá, để biên soạn Kinh điển Phật giáo.
Đây đƣợc coi là lần tập kết lần I. Khoảng 100 năm sau, kết tập lần II họp ở Vaisali. Trong nội bộ Phật giáo có mâu thuẫn, số đông đòi chữa lại, biên soạn luật tạng, những ngƣời này bị trục xuất và tập hợp nhau lại thành phái Đại Chúng Bộ. Năm 245 trƣớc công nguyên, kết tập lần III ở Pataliputra, có mƣời một phái ly khai, chia ra làm nhiều trƣờng phái Phật giáo khác nhau, trong đó có hai trƣờng phái lớn “Đại thừa”, “Tiểu thừa”.
“Đại thừa” hoàn toàn không xa rời Phật pháp, nhƣng về chủ trƣơng, nó khác với “Tiểu thừa” vốn xuất phát từ Phật giáo Nguyên thủy. Đại thừa (cỗ xe lớn): Con ngƣời có thể giác ngộ bằng tự lực, bằng tha lực (sự dẫn dắt ngƣời 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác) đặc biệt là vị Bồ Tát, tức là mình đã giác ngộ đƣợc thì sẽ giác ngộ cho ngƣời khác. Đại thừa chủ trƣơng “tự giác” và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho ngƣời khác. Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): Mọi ngƣời phải lo tu dƣỡng tự thân, một mình đến chỗ giác ngộ bằng tự lực mà không chú ý cứu độ cho ngƣời khác, nhƣ đƣợc chở cỗ xe nhỏ.
Tiểu thừa chỉ thờ một Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán. Đối với Đại thừa, họ thờ nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát. Có thể nói những quan niệm, chủ trƣơng của Đại thừa - một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo (một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa, đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phƣơng Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng nhƣ trong tín ngƣỡng dân gian. Đại thừa hay Tiểu thừa đƣợc coi nhƣ những cỗ xe đƣa chúng ta đến nơi thanh tịnh, giải thoát.
Tuy công năng giữa chúng ít nhiều có sự khác nhau nhƣng cả hai phái đều tôn trọng những tƣ tƣởng cơ bản của Phật Thích Ca Mâu Ni, nhất là những tƣ tƣởng về thế giới quan và nhân sinh quan. Những nguyên lý cơ bản của Phật giáo đƣợc thể hiện trong giáo lý là một hệ thống rất đồ sộ nằm chủ yếu trong Tam tạng kinh điển, gồm Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng. Kinh tạng bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Hiện tại Phật giáo có hau hệ Kinh tạng: Kinh Nam truyền đƣợc phiên dịch từ tiếng Pali và đƣợc xem là gần gũi với lời Phật dạy nhất; gồm năm bộ: Trƣờng bộ kinh, trung bộ kinh, tƣơng ƣng bộ kinh, tăng chi bộ kinh và tiểu bộ kinh.
Ngoài ra còn có bốn bộ A-hàm: Trƣờng A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Tạp A-hàm Kinh Bắc truyền: điển hình nhƣ các bộ Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Đại Tập, Kim Cang, Bát Nhã. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của các giới luật của ngƣời xuất gia, đƣợc xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mƣơi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn. Luận tạng chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng đƣợc hình thành tƣơng đối trễ, có lẽ là sau khi các trƣờng phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trƣờng phái không đáng kể Thứ nhất: Thế giới quan Phật giáo có tính chất duy vật và vô thần.
Theo Phật giáo vũ trụ là tự nó, không do ai sinh ra, không có một thế lực nào có thể dùng ý muốn của mình chi phối sự vận hành của nó, vũ trụ không sinh, không diệt. Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua bốn luận thuyết cơ bản: Thuyết vô thƣờng, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết lý nhân duyên sinh. “Thuyết vô thường” là không ở mãi một trạng thái nhất định mà thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành để rồi biến hình đổi dạng và sau cùng đi đến sự tan rã. Thật vậy, mọi vật đều phải đƣợc tạo ra, tức là còn ở điều kiện tốt, sau đó phải chuyển từ từ sang xấu và sau cùng đi đến sự tan rã.
Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ nhƣ hạt cát, đến lớn nhƣ trăng sao, đều phải tuân theo luật vô thƣờng. Luật vô thƣờng chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thƣờng trụ, bất biến, ta lầm tƣởng sự vật là yên tĩnh, là bất động nhƣng thật ra nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng. Thuyết vô thƣờng là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho phƣơng thức sống, cho triết lý sống của những con ngƣời tu dƣỡng theo giáo lý Phật.
Chúng ta hiểu “Thuyết vô ngã” dƣới cái nhìn đạo Phật là tất cả sự vật, hiện tƣợng, chính bản thân ta là không có thực. Thế giới là sự hợp lại các yếu tố vật chất (sắc), tinh thần (danh), đó là năm yếu tố ngũ uẩn: Sắc - Thụ - Tƣởng - Hành - Thức. Nhƣng Danh - Sắc chỉ hội tụ trong thời gian ngắn rồi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển sang trạng thái khác nên không có cái tôi “vô ngã”. Thuyết “vô ngã” làm cho ngƣời ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác.
Thuyết “vô thường”, “vô ngã” là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, căn cứ vào hai thuyết này Phật giáo đã xây dựng cho đệ tử một phƣơng thức sống, triết lý sống lấy vị tha làm đầu, hay nói cách khác chính là cuộc sống một ngƣời vì mọi ngƣời, mọi ngƣời vì một ngƣời. Với “Thuyết lý nhân duyên sinh” Phật giáo muốn nói tới một định lý, theo định lý ấy sự vật vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ diệt khi nhân duyên tan rã. Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng điệp điệp. Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà hợp, sự vật là hƣ giả, là giả hợp không có tính tồn tại.
Nhƣ vậy con ngƣời làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh của mình. Cuộc sống của con ngƣời có tƣơi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều do nhân duyên mà con ngƣời tạo ra. Với nhận thức nhƣ vậy, con ngƣời tìm đƣợc một phƣơng thức sống, sống vì hạnh phúc của mọi ngƣời, sống an lạc, tự tại, giải thoát. Thuyết nhân quả là một trong những thuyết cơ bản của giáo lý Phật.