Tổng quan nghiên cứu

Kiên Giang là tỉnh sản xuất lương thực và nuôi trồng thủy sản trọng điểm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long với hơn 200 km bờ biển và mạng lưới hơn 100 cửa sông, kênh rạch thông ra biển Tây. Địa hình toàn tỉnh thuộc dạng trũng thấp với độ cao trung bình từ 0,2 đến 1,2 m, chịu sự chi phối phức tạp từ ba yếu tố: chế độ nhật triều biển Tây, dòng chảy phân lưu từ sông Hậu và lượng mưa nội đồng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và sự suy giảm nguồn nước ngọt từ thượng nguồn sông Mê Kông, hiện tượng hạn mặn trong mùa khô ngày càng trở nên khốc liệt. Điển hình vào mùa khô năm 2015–2016, tỉnh Kiên Giang đã phải công bố tình trạng thiên tai hạn mặn trên toàn địa bàn vào ngày 04/02/2016 khi ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu tới 65–70 km trên sông Cái Lớn (vượt qua ranh giới sang tỉnh Hậu Giang) và 30–35 km trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên.

Hậu quả của đợt hạn mặn lịch sử đã làm 4.772 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại và khiến 44.256 hộ dân tại đô thị và nông thôn lâm vào cảnh thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Đáng lo ngại hơn, theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi mực nước biển dâng 100 cm thì có tới 76,90% diện tích đất tự nhiên của tỉnh đối mặt với nguy cơ ngập chìm và nhiễm mặn. Đề tài luận văn được thực hiện nhằm xây dựng bộ công cụ mô phỏng toán học chuyên sâu, từ đó đánh giá định lượng hiện trạng và diễn biến xâm nhập mặn trên các trục sông chính (Cái Lớn, Cái Bé, Giang Thành), cung cấp cơ sở khoa học chính xác phục vụ quy hoạch hạ tầng thủy lợi và bảo vệ nguồn nước bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết thủy động lực học dòng chảy một chiều không ổn định trong mạng lưới sông ngòi hở và lý thuyết tải – khuếch tán vật chất hòa tan. Hai mô hình toán học cốt lõi được tích hợp bao gồm:

  • Hệ phương trình Saint-Venant 1 chiều: Gồm phương trình liên tục bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng bảo toàn xung lượng, mô tả sự biến đổi mực nước và lưu lượng theo không gian và thời gian dưới tác động của độ dốc đáy, lực ma sát đáy (hệ số nhám Manning) và lực gia tốc trọng trường.
  • Phương trình tải – khuếch tán 1 chiều (Advection-Dispersion): Mô tả quá trình vận chuyển và xáo trộn nồng độ muối dọc theo dòng chảy dưới tác động đồng thời của vận tốc dòng chảy trung bình mặt cắt và hệ số khuếch tán dọc.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: nồng độ mặn ranh giới 4‰ (ngưỡng chịu đựng tối đa của phần lớn giống lúa thuần), chế độ nhật triều không đều biển Tây với biên độ nhỏ từ 0,8 đến 1,2 m, và khu vực giáp nước giữa hệ thống bán nhật triều biển Đông và nhật triều biển Tây có dao động mực nước chỉ từ 10 đến 15 cm.

Phương pháp nghiên cứu

  • Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Nghiên cứu thu thập và xử lý chuỗi số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 1980–2017 (hơn 37 năm) tại trạm Rạch Giá và các trạm vệ tinh; chuỗi dữ liệu mực nước – lưu lượng thực đo tại các trạm biên Châu Đốc, Tân Châu, Cần Thơ, Xẻo Rô; dữ liệu hình học mặt cắt của hơn 2.054,93 km mạng lưới sông kênh; cùng thông số vận hành của 35 cống ngăn mặn trọng điểm và 1.252 trạm bơm điện trên toàn tỉnh.
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu số liệu thủy lực và chất lượng nước chi tiết theo từng giờ trong các tháng mùa khô đỉnh điểm (từ tháng 1 đến tháng 5) của năm 2015 và 2016. Lý do chọn mẫu giai đoạn này là để nắm bắt trạng thái thủy văn cực đoan nhất dưới tác động của hiện tượng El Nino kéo dài, bảo đảm kiểm nghiệm mô hình ở điều kiện tải trọng khắc nghiệt nhất.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng bộ phần mềm chuyên dụng MIKE 11 (mô-đun HD và AD) do DHI phát triển, ứng dụng sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott để giải hệ phương trình vi phân phi tuyến. Đây là phương pháp tối ưu nhất hiện nay cho mạng sông kênh chằng chịt, đảm bảo độ ổn định số trị tuyệt đối và cho phép tích hợp linh hoạt với công nghệ GIS để trực quan hóa bản đồ ranh mặn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Đỉnh mặn xuất hiện tập trung vào tháng 3 và tháng 4: Lưu lượng thượng nguồn sông Hậu qua Châu Đốc trong mùa kiệt giảm xuống chỉ còn 200–330 m3/s (so với đỉnh lũ 5.400 m3/s), trùng thời điểm gió mùa Tây Nam phát triển mạnh. Độ mặn cao nhất thực đo và mô phỏng tại trạm Xẻo Rô đạt 20‰ và tại trạm Rạch Giá đạt 18‰.
  • Khoảng cách truyền mặn sâu kỷ lục trên các trục sông chính: Trên sông Cái Lớn, ranh mặn 4‰ trung bình nhiều năm xâm nhập sâu 45–50 km, riêng mùa khô năm 2016 lấn sâu 65–70 km sang tỉnh Hậu Giang (sâu hơn trung bình 5–10 km). Trên sông Cái Bé, ranh mặn 4‰ vào sâu 25–30 km. Trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên, ranh mặn 4‰ xâm nhập từ 13–15 km ở năm trung bình lên mức 30–35 km ở năm hạn cực đoan.
  • Tác động hai mặt từ hệ thống công trình kiểm soát mặn: Việc vận hành 29 cống ngăn mặn tại vùng Tứ giác Long Xuyên đã ngọt hóa triệt để diện tích nội đồng, nhưng đồng thời làm giảm dung tích trữ lũ và dồn áp lực truyền mặn sang các trục sông chưa có cống kiểm soát ở phía Nam như sông Cái Lớn.

Thảo luận kết quả

Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE 11 được minh chứng sinh động thông qua các đồ thị đường cong quá trình mực nước và nồng độ mặn tại 8 trạm kiểm định (Châu Đốc, Tân Châu, Cần Thơ, Tân Hiệp, Vị Thanh, Xẻo Rô, Rạch Giá, An Ninh). Đường tính toán bám sát đường thực đo với hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt trên 0,85, khẳng định độ tin cậy của bộ thông số nhám đáy và hệ số khuếch tán.

Bảng tổng hợp các kịch bản tính toán (KB1A, KB1B đến KB4) mô tả rõ sự biến thiên nồng độ mặn dọc theo chiều dài sông giữa các thời kỳ triều cường và triều kém. Do đặc tính nhật triều biển Tây, quá trình biến đổi nồng độ mặn tại một mặt cắt diễn ra theo chu kỳ ngày với 1 đỉnh và 1 chân mặn, trễ pha so với đỉnh triều từ 1 đến 2 giờ. Kết hợp với lượng bốc hơi mặt nước mùa khô tại Rạch Giá lên tới 1.149,5 mm/năm và lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 8% tổng lượng mưa năm, áp lực thiếu hụt dòng chảy ngọt càng đẩy nhanh tốc độ mặn hóa nguồn nước mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng và nâng cấp hệ thống công trình kiểm soát mặn: Đẩy nhanh tiến độ thi công cụm cống kiểm soát nguồn nước Cái Lớn – Cái Bé; hoàn thiện quy trình đóng mở tự động cho 35 cống ven biển Tây tại các huyện Kiên Lương, Hòn Đất, Rạch Giá, An Biên và An Minh nhằm giảm 30% diện tích bị nhiễm mặn trong giai đoạn 2020–2025.
  • Tái cơ cấu mùa vụ và chuyển đổi mô hình canh tác: Điều chỉnh lịch thời vụ trên 395.453 ha đất lúa toàn tỉnh để thu hoạch trước tháng 3; nhân rộng mô hình thích ứng thông minh 1 vụ lúa – 1 vụ tôm (hiện đạt 153.888 ha năm 2017) tại vùng U Minh Thượng và duy trì 169 cánh đồng lớn sản xuất lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP.
  • Bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt đô thị: Nâng cấp dung tích hồ chứa nước Rạch Giá vượt mức thiết kế 500.000 m3 hiện tại; lắp đặt trạm bơm dã chiến lấy nước ngọt tự động trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên khi nồng độ mặn dưới ngưỡng cho phép 0,25‰, chấm dứt tình trạng cắt nước sinh hoạt cho 44.256 hộ dân trong các đợt hạn mặn kéo dài.
  • Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và cảnh báo sớm: Sở Nông nghiệp & PTNT phối hợp cùng Đài KTTV Kiên Giang lắp đặt 15 trạm đo mặn tự động truyền dữ liệu theo thời gian thực (real-time), ứng dụng mô hình MIKE 11 để phát bản tin dự báo xâm nhập mặn trước 5–7 ngày cho các địa phương ven biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên nước: Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang có thể sử dụng các bản đồ kịch bản xâm nhập mặn làm cơ sở điều hành mạng lưới thủy lợi và xây dựng kế hoạch ứng phó thiên tai cấp tỉnh.
  • Kỹ sư tư vấn thiết kế và quản lý công trình thủy lợi: Ứng dụng trực tiếp bộ thông số thủy lực, hệ số khuếch tán mặn và mặt cắt hình học sông kênh để tính toán thiết kế cống ngăn mặn, âu thuyền và trạm bơm tiêu thoát lũ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo phương pháp thiết lập điều kiện biên phức tạp, kỹ thuật hiệu chỉnh mô-đun MIKE 11 HD-AD và kinh nghiệm xử lý chuỗi số liệu thủy văn vùng chịu ảnh hưởng triều hỗn hợp.
  • Các doanh nghiệp và hợp tác xã nông – thủy sản: Nắm bắt quy luật diễn biến mặn theo từng tháng (cao điểm tháng 3–4) và vị trí ranh mặn 4‰ để lập kế hoạch lấy nước, trữ ngọt và lựa chọn con giống nuôi trồng phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tháng 3 và tháng 4 hàng năm lại là thời điểm mặn xâm nhập sâu nhất tại Kiên Giang?
Trong giai đoạn này, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông về hạ lưu đạt mức thấp nhất (lưu lượng tại Châu Đốc chỉ khoảng 200–330 m3/s), kết hợp với bức xạ nhiệt cao làm lượng bốc hơi tăng vọt và gió Tây Nam thổi mạnh đẩy triều biển Tây dâng cao, đưa nước mặn lấn sâu vào nội đồng.

Ranh giới độ mặn 4‰ có ý nghĩa kỹ thuật như thế nào trong sản xuất nông nghiệp?
Nồng độ mặn 4‰ là ngưỡng giới hạn gây ngộ độc và làm chết phần lớn các giống lúa ngọt cùng cây ăn trái truyền thống. Khi mặn 4‰ xâm nhập sâu 65–70 km trên sông Cái Lớn vào mùa khô 2016, toàn bộ hệ thống tưới tiêu dọc tuyến bị tê liệt, gây thiệt hại hơn 4.772 ha thủy sản và lúa màu.

Mô hình MIKE 11 giải quyết bài toán thủy lực và xâm nhập mặn tại Kiên Giang ra sao?
MIKE 11 tích hợp mô-đun HD giải hệ phương trình Saint-Venant để tính toán mực nước – lưu lượng và mô-đun AD giải phương trình tải – khuếch tán chất. Nhờ thuật toán sai phân ẩn 6 điểm Abbott, mô hình mô phỏng ổn định mạng lưới hơn 2.054 km kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều biển Tây.

Nước biển dâng tác động như thế nào đến nguy cơ ngập mặn tại tỉnh Kiên Giang?
Theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường, với kịch bản nước biển dâng 100 cm, có tới 76,90% diện tích tự nhiên của Kiên Giang đứng trước nguy cơ ngập chìm. Mực nước biển dâng cao làm tăng áp lực thủy triều, đẩy ranh mặn vào sâu thêm từ 5 đến 10 km so với hiện trạng.

Những giải pháp phi công trình nào giúp nông dân Kiên Giang thích ứng hiệu quả với hạn mặn?
Các giải pháp phi công trình hiệu quả gồm: chuyển đổi diện tích đất lúa bấp bênh sang mô hình tôm – lúa trên 153.888 ha, bố trí thời vụ né đỉnh mặn tháng 3–4, gieo cấy giống lúa chịu mặn trên 169 cánh đồng lớn và theo dõi bản tin quan trắc mặn trực tuyến để chủ động tích trữ nước ngọt.

Kết luận

  • Xây dựng thành công bộ công cụ mô hình toán thủy lực và truyền mặn một chiều MIKE 11 HD-AD với độ chính xác cao (hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt trên 0,85) cho hệ thống sông chính tỉnh Kiên Giang.
  • Xác định rõ quy luật xâm nhập mặn với đỉnh mặn từ 18‰ đến 20‰ tập trung vào tháng 3–4 và ranh mặn 4‰ có khả năng lấn sâu tới 65–70 km trên sông Cái Lớn trong các mùa khô cực đoan.
  • Cung cấp bức tranh toàn diện về tác động kiểm soát mặn của hệ thống 35 cống hiện hữu và làm rõ sự phân hóa xâm nhập mặn trên 4 vùng địa hình sinh thái của tỉnh.
  • Đề xuất đồng bộ các nhóm giải pháp công trình và phi công trình phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp trên 395.453 ha đất canh tác và bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho hơn 44.000 hộ dân đô thị.
  • Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 2020–2025 cần hướng tới việc kết nối mô hình MIKE 11 với mô hình 2 chiều (MIKE 21) cho các vùng bãi triều ven biển và tích hợp mạng lưới quan trắc mặn tự động thời gian thực. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác bộ dữ liệu mô phỏng chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác quy hoạch tài nguyên nước thực tế.