Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Kết quả đánh giá và can thiệp cho trường hợp phụ nữ sau sinh có rối loạn trầm cảm - Phần kết luận - Tài liệu tham khảo - Phần phụ lục 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH 1. Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm ở phụ nữ sau sinh 1.Nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nước ngoài Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, có khoảng 298 triệu người mắc trầm cảm trong năm 2010 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu). Theo một nghiên cứu khác ở Mỹ năm 2014, có khoảng 17.6 nghìn người bị trầm cảm mỗi năm, nhưng có tới hơn 2/3 người bị trầm cảm không nhận ra mình có bệnh và không được điều trị. Điều đáng báo động là có tới 48% những người trầm cảm có ý tưởng tự sát và 24% những người có toan tự sát được báo cáo là không nhận được sự hỗ trợ điều trị trước đó.
Đó là thông tin được đưa ra tại hội thảo truyền thông giáo dục sức khỏe với chủ đề “Trầm cảm – Hãy cùng trò chuyện” tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bạch Mai (VSKTTBM) diễn ra chiều ngày 4/4/2017 [13]. Trầm cảm sau sinh đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới đặc biệt ở các nước phát triển. Sau đây là một số công trình nghiên cứu về trầm cảm ở PNSS: Theo O‟ Hara và cộng sự (1984), những người mẹ có các triệu chứng liên quan đến trầm cảm ước tính tỷ lệ 30 – 75% chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán TCSS được gọi là trầm buồn sau sinh (baby blue) thường vào ngày thứ 3 hoặc thứ 4 và kéo dài hàng giờ trong vài ngày với các biểu hiện như lo lắng, chán ăn, mất ngủ … đa số tự thuyên giảm vào ngày thứ 10 sau sinh mà không cần sự can thiệp nào. Bên cạnh đó cũng còn có những trường hợp không thể tự khỏi mà vẫn duy trì các triệu chứng và phát triển thành bệnh lý – TCSS.
TCSS dễ làm người phụ nữ mất khả năng chăm sóc trẻ an toàn, và nếu không được điều trị, can thiệp kịp thời các triệu chứng có thể ngày càng xấu hơn kéo dài. Hậu quả của TCSS có thể gây ra những tác động xấu đến sức khỏe của người mẹ với các thành viên trong gia đình và còn gây ra mâu thuẫn trong hôn nhân. Mặt khác, có thể còn làm giảm sự gắn kết giữa người mẹ và đứa trẻ, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển thể chất, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảm xúc, tâm lý, hành vi cũng như trí tuệ của đứa trẻ sau này. Một số trường hợp biểu hiện ở mức độ trầm trọng, thậm chí người mẹ có thể có hành vi tự hủy hoại bản thân và đứa trẻ như có ý muốn tự sát hoặc những hành động nguy hiểm, hoặc làm chết chính con mình.W và cộng sự (1996) đã tiến hành nghiên cứu phân tích tổng hợp (78 công trình nghiên cứu bao gồm 59 nghiên cứu ban đầu, 19 đánh giá và tất cả đều được đánh giá) trên 12.810 bệnh nhân TCSS tại một số quốc gia cho thấy tỷ lệ phụ nữ mắcTCSS là 13%.
Những nghiên cứu được chọn lọc vào phân tích tổng hợp phải thỏa mãn một số điều kiện quan trọng. Thứ nhất: Đối tượng nghiên cứu là những PNSS ít nhất hai tuần để tránh nhầm lẫn với hội chứng “baby blue” (trầm cảm thoáng qua). Thứ hai: Phương pháp phải đảm bảo tính ngẫu nhiên. Thứ ba: Việc đánh giá TCSS phải dựa vào những thang đo đã được chuẩn hóa.
Cho nên có thể nói tỷ lệ TCSS dựa trên phân tích của O‟Hara và cộng sự cho chúng ta cái nhìn tương đối toàn diện về tỷ lệ mắc rối loạn TCSS, đặc biệt là những quốc gia phát triển vào những năm trước năm 2000 [dẫntheo Donna E. Một nghiên cứu khác cho thấy trên thế giới cho thấy, cứ 7 phụ nữ Mỹ thì có khoảng 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé, kết quả còn phát hiện thêm rằng hơn một nửa số phụ nữ có TCSS cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi có bầu và trong suốt thời gian mang thai và sau khi sinh em bé. Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bà mẹ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ [17]. Chandran và cộng sự (2002) nghiên cứu trên một nhóm phụ nữ từ vùng nông thôn Tamil Nadu Ấn Độ, cụ thể trên 359 phụ nữ trong 3 tháng cuối của thai kỳ và 6 – 12 tuần sau sinh.
Kết quả thu được là tỷ lệ TCSS chiếm 19,8%, các yếu tố ảnh hưởng đến giới tính của đứa trẻ, mối quan hệ không được tốt trong gia đình, các sự kiện trong cuộc sống gây căng thẳng lúc mang thai, thu nhập thấp, thiếu hụt sự hỗ trợ sau sinh [23]. Tác giả Bener (2011) nghiên cứu về TCSS trên1.379 bà mẹ người Ả Rập sống tại Quatar (quốc gia đang phát triển). Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tỷ lệ mắc rối loạn TCSS và xác định các yếu tố nguy cơ của chứng TCSS bằng cách sử dụng thang đo trầm cảm sau sinh của Endinburgh (EPDS). Đây là một nghiên cứu cắt ngang tại trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu được tiến hành trong thời gian 6 tháng, từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011.
Kết quả trong nhóm nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS là 17,6%, các bà mẹ trên 35 tuổi là 49,9%. Xác định các yếu tố nguy cơ chính cho việc phát triển TCSS làcác yếu tố khó khăn như về tài chính, sinh non, thiếu sự hỗ trợ của gia đình, mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân [21]. Công trình của Reck và cộng sự (2004) được nghiên cứu trong một mẫu cộng đồng gồm 853 phụ nữ ở Đức và đánh giá 2 tuần sau sinh sử dụng bằng một cuộc phỏng vấn qua điện thoại và bảng câu hỏi về sức khỏe tâm thần và sử dụng thang đo trầm cảmEPDS. Kết quả thu được tỷ lệ mắc “baby blue” ở phụ nữ sau sinh Đức là 52,2% có mối liên quan đáng kể giữa tình trạng trầm cảm thai sản thoáng qua và TCSS, trầm cảm thoáng qua thai sản với rối loạn lo âu [28, pp 77 - 87].
Trong một nghiên cứu của Zubazan và cộng sự (2010), mục đích của nghiên cứu này là tiến hành so sánh 4 công cụ sàng lọc sau sinh hay được sử dụng. Trong số 4 công cụ sàng lọc được xem xét và so sánh, thang TCSS của EPDS thể hiện độ hiệu lực cao hơn cả. Tuy nhiên, qua kết quả nghiên cứu các tác giả cũng nhấn mạnh không có công cụ nào được đánh giá hoàn hảo khi áp dụng cho các bối cảnh ngôn ngữ; văn hóa khác nhau. Và họ cũng bổ sung rằng ngoài thang đo TCSS của EPDS còn có thể có thêm nhiều các công cụ khác mà cần các nghiên cứu để chứng minh tính hiệu quả của nó trong việc sàng lọc, phát hiện TCSS trong phạm vi rộng hơn [29, pp 357 – 365].
Hiện nay, tỉ lệ PNSS có trầm cảm được báo cáo khác nhau giữa các nước và giữa các nghiên cứu nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mẫu nghiên cứu cũng như đặc điểm về kinh tế và bối cảnh văn hóa đó như thế nào. Tổng hợp những tài liệu về TCSS cho thấy, rối loạn này thường xuyên xuất hiện ở khoảng 10 – 15%PNSS trong các xã hội phương Tây (Kumar và Robson, 1984, O‟Hara và cộng sự 1996). Theo Elizabeth và cộng sự (2011), tỷ lệ PNSS mắc trầm cảm tại các nước Mỹ, Anh, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Úc được nghiên cứu thấy là từ 7% - 20%, và với hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này thường dao động trong khoảng từ 10 – 15%. Tuy nhiên, Halbreich và Karkun (2006) nhận định rằng một tỷ lệ trung bình từ 10 – 15% đối với TCSS không phải là đại diện của sự phổ biến toàn cầu do sự thay đổi của các tiến trình và sự đa dạng của triệu chứng.
Ở các nước kém phát triển với sự hạn chế về nguồn lực kinh tế, an sinh xã hội, tỉ lệ TCSS ở phụ nữ ở các nước này có thể vượt qua con số 25% (báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, (2009), thậm chí có thể lên tới 60% [2, tr44 - 45]. Nghiên cứu về TCSS ở nước ngoài luôn gắn với những nghiên cứu dịch tễ học và công cụ để đo mức độ TCSS ở phụ nữ. Các kết quả nghiên cứudịch tễ học về trầm cảm ở PNSS ở các nước cho thấy TCSS khá phổ biến với tỷ lệ khác nhau. Sự khác nhau này được lý giải là do thiếu sự đồng thuận của các tác giả khi lựa chọn thời gian đo mức độ trầm cảm kéo dài trong giai đoạn sau sinh, do sự khác nhau trong việc đưa ra điểm ngưỡng của trầm cảm và khác nhau về phương pháp đánh giá để xác định trầm cảm.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra mức độ, nguyên nhân, cơ chế bệnh, đặc điểm lâm sàng, các triệu chứng, biểu hiện bệnh, các yếu tố văn hóa xã hội, sang chấn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh TCSS. Kết quả nghiên cứu này cũng là một gợi ý quan trọng để làm cơ sở thực hiện một quy trình đánh giá và can thiệp trường hợp phụ nữ mắc RLTCSS. Nghiên cứu trầm cảm sau sinh ở Việt Nam Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả cũng tập trung nghiên cứu về TCSS nhằm xác định tỷ lệ dịch tễ, các đặc điểm lâm sàng, mức độ, các yếu tố ảnh hưởng và các biện pháp hỗ trợ. Dưới đây chúng tôi kể đến một số những nghiên cứu điển hình đã được tiến hành.
Nghiên cứu cắt ngang của Lê Quốc Nam (2002) khảo sát trên 321 sản phụ đến khám lại vào tuần thứ 4 sau sinh tại Bệnh Viên Từ Dũ. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu tỷ lệ bệnh TCSS và những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh này để góp phần phòng ngừa và bổ sung vào chương trình giáo dục cho PNSS lúc mang thai. Nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi và đưa cho họ tự đánh giá bằng thang TCSS của Edinburgh (EPDS) (hỏi về các triệu chứng xảy ra trong một 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuần trước đó). Các phụ nữ có điểm số thang EPDS 13 sẽ được bác sĩ tâm thần đánh giá tiếp qua thang trầm cảm Hamniton, đồng thời khám lâm sàng để chẩn đoán xác định RLTC.