Tổng quan nghiên cứu

Độ che phủ rừng của một quốc gia là chỉ số an ninh môi trường then chốt với ngưỡng an toàn sinh thái tối ưu được quốc tế khuyến nghị là 45% tổng diện tích tự nhiên. Mặc dù tỷ lệ che phủ rừng tại Việt Nam trong những năm gần đây đã vượt ngưỡng khuyến nghị trên, chất lượng rừng vẫn tồn tại nhiều bất cập khi diện tích rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm khoảng 4,6% tổng diện tích rừng tự nhiên trên toàn quốc. Tại tỉnh Phú Thọ, Vườn Quốc gia Xuân Sơn sở hữu quy mô vùng lõi lên tới 15.048 ha với độ che phủ đạt trên 87%, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm tới 11.069,79 ha (tương đương 74% diện tích). Đây là khu vực duy nhất tại miền Bắc bảo tồn được hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 1.179 loài thực vật bậc cao và 365 loài động vật hoang dã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế công tác kiểm kê tài nguyên rừng truyền thống. Việc đo đạc sinh khối bằng phương pháp chặt hạ trực tiếp hay đo đếm thủ công bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng: tốn kém kinh phí, tiêu tốn nhiều nhân lực, khó khả thi trên diện tích rộng lớn và địa hình núi đá chia cắt phức tạp, đồng thời không thể áp dụng cho các loài thực vật nguy cấp. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh cam kết giảm phát thải ròng bằng không tại COP26, việc định lượng chính xác khả năng hấp thụ khí nhà kính và lưu giữ cacbon của hệ sinh thái rừng nhiệt đới trở thành yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu xây dựng các mô hình toán học ước tính sinh khối trên mặt đất và trữ lượng cacbon tích trữ; thành lập bản đồ phân bố trữ lượng sinh khối và cacbon cho Vườn Quốc gia Xuân Sơn; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu bao trùm toàn bộ ranh giới vùng lõi 15.048 ha của Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi thời gian tập trung vào năm 2019 thông qua việc thu thập ảnh viễn thám kết hợp đợt điều tra thực địa trên 58 ô tiêu chuẩn. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi thiết lập quy trình tích hợp ảnh viễn thám quang học và radar trong lượng hóa bể chứa cacbon rừng, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp các nhà quản lý định giá chính xác dịch vụ môi trường rừng, phục vụ phát triển thị trường tín chỉ cacbon trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của các học thuyết sinh thái học rừng, lý thuyết sinh khối allometric và các nguyên lý viễn thám hiện đại:

Thứ nhất, lý thuyết phương trình tương quan sinh khối allometric của Chương trình UN-REDD Việt Nam (năm 2012) áp dụng cho vùng Đông Bắc. Mô hình này thiết lập mối quan hệ phi tuyến giữa sinh khối khô trên mặt đất của từng cá thể cây rừng với hai biến số đo đạc lâm sinh cơ bản là đường kính ngang ngực và chiều cao vút ngọn.

Thứ hai, nguyên lý quy đổi trữ lượng cacbon sinh khối theo hướng dẫn của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, năm 2006). Lượng cacbon tích trữ trong thảm thực vật sống được xác định thông qua việc nhân tổng sinh khối khô với hệ số quy đổi chuẩn quốc tế là 0,5.

Thứ ba, lý thuyết phản xạ phổ quang học và chỉ số thực vật chuẩn hóa (NDVI) trích xuất từ dữ liệu vệ tinh Landsat 8 OLI và Sentinel-2. Chỉ số NDVI phản ánh sự chênh lệch giữa độ hấp thụ mạnh bức xạ đỏ của chất diệp lục và độ phản xạ cao ở dải sóng cận hồng ngoại của cấu trúc tế bào lá cây, cung cấp thông tin định lượng về mật độ thảm phủ xanh.

Thứ tư, lý thuyết tán xạ ngược viễn thám radar khẩu độ tổng hợp (SAR) từ vệ tinh ALOS-2 PALSAR-2 băng L. Khác với sóng quang học, sóng vi ba băng L có bước sóng dài khoảng 23,6 cm, mang năng lượng xuyên qua tán lá để ghi nhận thông tin cấu trúc cành nhánh và thân cây gỗ thông qua hai trạng thái phân cực sóng phát - nhận là đồng phân cực (HH) và phân cực chéo (HV).

Các khái niệm chính yếu được chuẩn hóa bao gồm: Sinh khối trên mặt đất (AGB - tính bằng tấn/ha), Trữ lượng cacbon tích trữ (CBS - tính bằng tấn/ha), Cường độ tán xạ ngược radar (tính bằng decibel - dB), và Ma trận đồng xuất hiện mức xám (GLCM) để tính toán 8 chỉ số kết cấu không gian bề mặt tán rừng gồm tương phản, tương quan, không đồng dạng, entropy, đồng dạng, trị trung bình, mô men cấp 2 và phương sai.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa gồm 58 ô tiêu chuẩn tạm thời với kích thước mỗi ô là 20m x 25m (diện tích chuẩn 500 m2 theo quy chuẩn của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu đại diện phân tầng sinh thái. Các ô tiêu chuẩn được bố trí phân tán đều trong không gian nghiên cứu, đại diện cho các trạng thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng núi đất và rừng phục hồi, phản ánh đầy đủ các cấp độ cao và độ dốc khác nhau, đồng thời tuân thủ tiêu chí cách đường mòn, sông suối tối thiểu 100 m để loại bỏ hiệu ứng rìa rừng. Tại mỗi ô, toàn bộ cây thân gỗ có đường kính ngang ngực từ 5 cm trở lên tại vị trí 1,3 m được đo đếm chính xác bằng thước đo laser Criterion RD1000 và đo chiều cao vút ngọn bằng máy đo xa TruPulse 360B.

Nguồn dữ liệu ảnh vệ tinh đa nguồn được thu thập đồng bộ trong năm 2019:

  • Cảnh ảnh radar ALOS-2 PALSAR-2 mức xử lý 2.1, độ phân giải không gian 6,25 m chụp ngày 27/07/2019 với góc chụp 36,6 độ.
  • Cảnh ảnh quang học Landsat 8 OLI chụp ngày 26/06/2019 với tỷ lệ che phủ mây dưới 20%, sử dụng các kênh 4, 5, 6 độ phân giải 30 m và kênh toàn sắc 8 độ phân giải 15 m.
  • Cảnh ảnh quang học Sentinel-2 chụp ngày 08/02/2019 ở mức xử lý Level-1C được hiệu chỉnh khí quyển lên Level-2A bằng phần mềm SNAP theo thuật toán LibRadtran.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hồi quy kết hợp đa nguồn viễn thám: Trong các khu rừng nhiệt đới có cấu trúc tầng tán dày đặc như Vườn Quốc gia Xuân Sơn, các chỉ số quang học như NDVI nhanh chóng rơi vào trạng thái bão hòa khi sinh khối vượt ngưỡng 150 đến 200 tấn/ha. Sóng radar băng L của ALOS-2 có khả năng khắc phục hiện tượng bão hòa nhờ độ xuyên sâu của dải sóng milimet. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng đơn biến tán xạ radar, độ gồ ghề của địa hình núi đá có thể gây nhiễu tán xạ. Do đó, việc xây dựng mô hình hồi quy đa biến tích hợp giữa tán xạ radar, các chỉ số kết cấu GLCM và chỉ số thực vật quang học trên phần mềm thống kê R và SPSS là giải pháp tối ưu nhằm triệt tiêu sai số cục bộ, nâng cao hệ số xác định và hạ thấp sai số chuẩn RMSE.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa trên 58 ô tiêu chuẩn và xử lý dữ liệu viễn thám mang lại các phát hiện cụ thể:

Thứ nhất, cấu trúc lâm phần thực tế có sự phân hóa mạnh mẽ theo điều kiện địa hình và trạng thái rừng. Mật độ cây rừng dao động từ 420 đến 960 cây/ha. Đường kính ngang ngực trung bình biến thiên từ 16,5 cm đến 32,8 cm; chiều cao vút ngọn trung bình đạt từ 12,2 m đến 22,6 m. Trữ lượng sinh khối trên mặt đất tại các ô khảo sát ghi nhận mức thấp nhất là 52,4 tấn/ha tại các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy và đạt mức cao nhất lên tới 346,2 tấn/ha tại các quần xã rừng nguyên sinh trên núi đá vôi nơi có sự hiện diện của các loài cây gỗ lớn như Chò chỉ, Nghiến và Dổi.

Thứ hai, độ nhạy của các kênh ảnh radar đối với sinh khối rừng thể hiện sự khác biệt rõ nét giữa hai dạng phân cực. Kênh phân cực chéo HV cho thấy mối tương quan chặt chẽ hơn nhiều so với kênh đồng phân cực HH. Mô hình đơn biến sử dụng hệ số tán xạ ngược HV đạt hệ số xác định R2 xấp xỉ 0,58 với sai số chuẩn RMSE ở mức 46,2 tấn/ha, trong khi mô hình đơn biến sử dụng kênh phân cực HH chỉ đạt hệ số xác định R2 khiêm tốn ở mức 0,39.

Thứ ba, mô hình tích hợp đa biến kết hợp giữa dữ liệu radar và quang học mang lại độ chính xác vượt trội. Khi kết hợp thông số tán xạ ngược kênh HV của ALOS-2, hai biến kết cấu GLCM (trị trung bình Mean và độ tương phản Contrast) cùng chỉ số thực vật NDVI trích xuất từ Sentinel-2, hệ số xác định R2 của mô hình tăng vọt lên mức 0,782. So với mô hình đơn biến tốt nhất, sai số căn quân phương RMSE của mô hình tích hợp giảm tới 27,8%, chỉ còn khoảng 31,5 tấn/ha.

Thứ tư, kết quả phân hạng sinh khối và trữ lượng cacbon trên bản đồ toàn diện tích vùng lõi 15.048 ha cho thấy: Rừng rất giàu (sinh khối trên 300 tấn/ha, tương ứng cacbon trên 150 tấn/ha) chiếm tỷ lệ 24,6% diện tích; rừng giàu (sinh khối từ 200 đến 300 tấn/ha, cacbon 100 đến 150 tấn/ha) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 38,4%; rừng trung bình (sinh khối 101 đến 200 tấn/ha, cacbon 51 đến 100 tấn/ha) chiếm 25,8%; diện tích còn lại là rừng nghèo và đất chưa có rừng (sinh khối dưới 100 tấn/ha) chiếm 11,2%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự vượt trội của mô hình đa biến nằm ở cơ chế vật lý tương tác giữa sóng điện từ và thảm thực vật. Phân cực chéo HV ghi nhận phản xạ từ hiện tượng tán xạ thể tích (volume scattering) diễn ra mạnh mẽ trong không gian đa tầng của tán rừng nhiệt đới khi sóng tiếp xúc với thân và cành nhánh. Sự kết hợp các chỉ số kết cấu GLCM cung cấp thêm thông tin về mức độ đồng nhất và độ gồ ghề của bề mặt tán lá, giúp giải quyết triệt để tình trạng bão hòa tín hiệu quang học thuần túy.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây, phát hiện này hoàn toàn tương thích với kết luận của Nguyễn Viết Lương (năm 2017) khi tiến hành tại Vườn Quốc gia Yok Đôn, nơi mô hình kết hợp Landsat 8 OLI và ALOS-2 PALSAR-2 cũng nâng hệ số xác định lên trên 0,75. Kết quả này cũng khẳng định tính chính xác tương đương với nghiên cứu của Trần Quang Bảo và Lê Thái Sơn (năm 2012) tại Hà Tĩnh khi sử dụng ảnh SPOT 5 đạt độ chính xác phân loại trên 85%.

Về mặt biểu diễn trực quan, các kết quả này được thể hiện tối ưu thông qua hai dạng thức:

  • Biểu đồ phân tán (Scatter Plot) mô tả tương quan giữa sinh khối ước tính từ mô hình viễn thám và sinh khối thực tế đo đạc ngoài thực địa. Các điểm dữ liệu phân bố tập trung bám sát đường tuyến tính chuẩn 1:1, chứng minh mô hình không bị lệch biên ở cả dải sinh khối thấp lẫn dải sinh khối cao.
  • Bản đồ chuyên đề số hóa tỷ lệ 1:25.000 xây dựng trên nền tảng ArcGIS. Bản đồ phân chia rõ rệt 4 dải màu sinh khối: màu xanh lục đậm đặc trưng cho thảm rừng giàu và rất giàu tập trung tại vùng lõi hai xã Xuân Sơn và Kim Thượng, trong khi các mảng màu nhạt hơn phân bố rải rác ở khu vực tiếp giáp nương rẫy xã Xuân Đài và Đồng Sơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng về trữ lượng sinh khối và trữ lượng cacbon, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, xây dựng quy trình giám sát biến động sinh khối và trữ lượng cacbon định kỳ bằng công nghệ viễn thám đa nguồn. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn cần phối hợp với Viện Công nghệ Vũ trụ thiết lập chu kỳ cập nhật bản đồ trữ lượng 2 năm một lần thông qua việc tích hợp ảnh miễn phí Sentinel-2 với ảnh radar định kỳ. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm 60% chi phí ngân sách điều tra thủ công hàng năm và kiểm soát độ biến động trữ lượng rừng với độ tin cậy trên 85%, triển khai xuyên suốt giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, thiết lập đề án thương mại hóa tín chỉ cacbon rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng cần sử dụng cơ sở dữ liệu số hóa của luận văn để đăng ký tham gia thị trường cacbon tự nguyện. Mục tiêu hướng tới là thương mại hóa thành công lượng giảm phát thải ước đạt khoảng 180.000 tấn CO2 tương đương mỗi năm cho hơn 11.000 ha rừng tự nhiên, tạo nguồn tài chính bền vững trước năm 2028.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế giao khoán bảo vệ rừng gắn với hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng đệm. UBND huyện Tân Sơn và Ban Quản lý Vườn Quốc gia cần mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng cho 794 hộ gia đình với 2.984 nhân khẩu đang sinh sống trực tiếp trong vùng lõi. Mục tiêu là nâng tỷ lệ che phủ rừng trồng thêm 5% và tăng thu nhập bình quân đầu người từ tiền dịch vụ môi trường rừng thêm tối thiểu 20% trong giai đoạn 2024 - 2027 nhằm giảm áp lực khai thác lâm sản trái phép.

Thứ tư, triển khai ứng dụng hệ thống thông tin địa lý di động (Mobile WebGIS) trong công tác tuần tra cơ sở. Ban Quản lý cần trang bị thiết bị máy tính bảng tích hợp bản đồ sinh khối số hóa và định vị vệ tinh GPS cho toàn bộ 6 trạm quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở gồm trạm Kim Thượng, Xuân Đài, Xuân Sơn, Xóm Cỏi, Tân Sơn và Xuân Đông. Mục tiêu là rút ngắn 50% thời gian tuần tra thực địa và phát hiện sớm 95% các vụ việc xâm lấn đất lâm nghiệp ngay trong năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là Ban Quản lý các khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia và cơ quan kiểm lâm trên toàn quốc. Luận văn cung cấp quy trình kỹ thuật từng bước để ứng dụng ảnh viễn thám trong giám sát diễn biến rừng trên diện rộng, giúp các đơn vị tối ưu hóa nguồn lực kiểm kê rừng hàng năm với chuẩn sai số dưới 15% mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc đi thực địa phức tạp.

Nhóm thứ hai là các chuyên gia tư vấn dự án tín chỉ cacbon và định giá tài nguyên môi trường. Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận vững chắc về thuật toán trích xuất chỉ số tán xạ radar kết hợp quang học và các hệ số allometric quy đổi theo chuẩn IPCC, hỗ trợ đắc lực trong việc xây dựng hồ sơ thiết kế dự án (PDD) theo các tiêu chuẩn quốc tế như Verra (VCS) hay Plan Vivo.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường (mã ngành 8850101), Lâm học và Địa lý Viễn thám. Đây là tài liệu học thuật mẫu mực minh họa cho việc xử lý dữ liệu viễn thám vi ba, giải đoán ảnh quang học và kỹ thuật lập mô hình hồi quy đa biến trên môi trường thống kê mã nguồn mở R.

Nhóm thứ tư là các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng cơ quan quy hoạch tài nguyên. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng quy hoạch không gian bảo tồn đa dạng sinh học và ban hành các chính sách điều tiết chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Một là: Tại sao nghiên cứu phải kết hợp cả ảnh vệ tinh quang học và ảnh radar thay vì chỉ sử dụng một loại ảnh duy nhất? Ảnh quang học như Landsat 8 và Sentinel-2 có độ phân giải phổ cao, rất nhạy với sắc tố lá qua chỉ số NDVI nhưng thường bị che khuất bởi mây mù tại vùng núi và nhanh chóng bão hòa ở sinh khối trên 150 tấn/ha. Sóng radar băng L của ALOS-2 có khả năng xuyên mây và xuyên thấu tán cây. Sự kết hợp hai nguồn dữ liệu giúp bổ khuyết nhược điểm cho nhau, tăng hệ số R2 của mô hình từ 0,58 lên 0,782.

Hai là: Hệ số chuyển đổi sinh khối sang trữ lượng cacbon 0,5 theo hướng dẫn của IPCC có đảm bảo độ tin cậy tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn không? Hệ số 0,5 do IPCC ban hành là hệ số chuẩn hóa quốc tế được áp dụng rộng rãi cho hầu hết các kiểu rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới. Khi đối chiếu với các nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực miền núi phía Bắc, tỷ lệ hàm lượng cacbon trong gỗ khô của các loài cây bản địa đều dao động trong khoảng từ 48% đến 51%, do đó hệ số 0,5 hoàn toàn đảm bảo tính chính xác khoa học.

Ba là: Các thông số kết cấu không gian ma trận GLCM đóng vai trò cụ thể như thế nào trong mô hình dự báo? Các biến GLCM như Contrast (tương phản) và Mean (trung bình) phản ánh mức độ biến thiên giá trị xám giữa các điểm ảnh lân cận, tương ứng với độ gồ ghề và khoảng hở của tán rừng trên thực tế. Việc đưa các biến kết cấu này vào mô hình giúp phản ánh rõ nét cấu trúc tầng thứ ba chiều của lâm phần, giúp giảm thiểu sai số căn quân phương RMSE của mô hình dự báo tới 27,8%.

Bốn là: Dữ liệu thực địa từ 58 ô tiêu chuẩn có đủ độ tin cậy để ngoại suy cho toàn bộ vùng lõi hơn 15.000 ha hay không? Cỡ mẫu 58 ô tiêu chuẩn với diện tích 500 m2 mỗi ô được bố trí theo phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình, bao phủ toàn bộ các dải độ cao từ 700 m đến trên 1.000 m và phản ánh đầy đủ các trạng thái sinh thái chính yếu. Mẫu điều tra đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn thống kê lâm nghiệp với dung sai cho phép dưới 10%, hoàn toàn đủ cơ sở để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình hồi quy không gian.

Năm là: Bản đồ sinh khối và trữ lượng cacbon của luận văn có thể chuyển giao trực tiếp cho công tác quản lý thực tế hay không? Toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa ở định dạng số hóa GIS theo hệ tọa độ chuẩn WGS-84 và VN-2000, dễ dàng tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên rừng của tỉnh Phú Thọ. Các cấp quản lý có thể truy xuất ngay lập tức vị trí các phân khu có trữ lượng cacbon cao trên 150 tấn/ha để ưu tiên khoanh nuôi và bảo vệ nghiêm ngặt.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bộ cơ sở dữ liệu thực địa chuẩn mực từ 58 ô tiêu chuẩn đại diện cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn.
  • Khẳng định tính ưu việt của mô hình hồi quy đa biến kết hợp giữa kênh phân cực HV của ảnh radar ALOS-2 băng L, chỉ số kết cấu GLCM và chỉ số NDVI quang học với hệ số xác định R2 đạt tới 0,782.
  • Thành lập thành công bản đồ phân bố trữ lượng sinh khối và trữ lượng cacbon rừng tỷ lệ 1:25.000 với độ chính xác phân loại tổng thể đạt trên 85% cho toàn bộ 15.048 ha vùng lõi.
  • Đóng góp luận cứ khoa học chuẩn xác phục vụ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và mở ra cơ hội thương mại hóa hạn ngạch tín chỉ cacbon theo cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chuyển đổi số đồng bộ trong quản trị rừng, hài hòa giữa nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên và mục tiêu phát triển kinh tế cho gần 3.000 người dân bản địa.

Về lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2024 - 2026, các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục thử nghiệm tích hợp thêm dữ liệu đám mây điểm Lidar để hoàn thiện mô hình cấu trúc không gian 3 chiều của thảm rừng. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và quý độc giả quan tâm đến việc ứng dụng viễn thám tiên tiến trong lượng hóa tài nguyên rừng hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để áp dụng quy trình công nghệ vào thực tiễn địa phương.