Chương 1 nhằm giới thiệu về cơ sở lý luận, khảo sát các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như chính sách dạy và học ngoại ngữ của nhà nước, Khung tham chiếu chung châu Âu, phương pháp dạy và học đọc hiểu, cách đánh giá năng lực đọc hiểu. Chính sách của nhà nước trong việc đổi mới dạy và học ngoại ngữ Sinh thời, năm 1968, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng ban hành chỉ thị về việc đẩy mạnh công tác dạy và học ngoại ngữ trong trường phổ thông, các trường chuyên nghiệp, trong cán bộ khoa học, kỹ thuật, kinh tế và trong công nhân kỹ thuật do tính chất quan trọng của ngoại ngữ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Ngày nay trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam có nhiều cơ hội hơn để giao lưu với nước ngoài, ngoại ngữ càng trở nên quan trọng và cần thiết. Nhà nước đã quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo ngoại ngữ cho người Việt Nam.
Nhiều chính sách đã được đưa ra nhằm cải thiện tình trạng dạy và học ngoại ngữ ngày càng tốt hơn. Nhằm thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, để ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam trong việc phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 30/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 1400/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020". Mục đích của đề án là đến năm 2020, ”đa số thanh niên Việt Nam khi tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ, có thể sử dụng độc lập, tự tin giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa”[5].Theo đề án, trình độ ngoại 17 z ngữ của người học sẽ được đánh giá theo một khung trình độ thống nhất gồm 6 bậc, có các yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu chí của Khung tham chiếu chung châu Âu. Năng lực ngôn ngữ (language competence) Năng lực ngôn ngữ là một thuật ngữ rộng bao gồm năng lực ngôn ngữ hay năng lực ngữ pháp, năng lực diễn đạt, năng lực ngôn ngữ xã hội hoặc văn hóa xã hội và cái được gọi là năng lực tạo ra văn bản.[31] Kết quả của việc học ngôn ngữ cụ thể theo năng lực ngôn ngữ liên quan đến kiến thức về ngôn ngữ đó và khả năng sử dụng ngôn ngữ đó để diễn đạt và tạo ra những văn bản có ý nghĩa thích hợp với tình huống mà chúng đang được sử dụng.
Năng lực ngôn ngữ được phát triển tốt nhất trong ngữ cảnh của các hoạt động hoặc bài tập mà trong đó ngôn ngữ đó được sử dụng cho những mục đích thật, hay nói cách khác là những ứng dụng thật. Năng lực ngôn ngữ nên được phát triển thông qua các hoạt động trong giờ học mà trong đó ngôn ngữ được sử dụng theo ngữ cảnh [24]. Các hoạt động được lựa chọn tùy theo nhu cầu, mối quan tâm và sự từng trải của sinh viên. Các cấu trúc từ vựng, ngữ pháp, hình thức văn bản hoặc các tục lệ xã hội cần thiết để thực hiện các hoạt động này sẽ được dạy, luyện tập và đánh giá khi sinh viên tham gia vào các lĩnh vực khác nhau của hoạt động chứ không phải khi thực hiện riêng lẻ các hoạt động.[31] Theo Chomsky (1965)(trích trong Leon), năng lực là hệ thống ngôn ngữ “lý tưởng” mà nó có thể làm cho người sử dụng ngôn ngữ đó tái tạo và hiểu được một số không giới hạn các câu trong ngôn ngữ đó, và họ có thể phân biệt các câu có cấu trúc ngữ pháp từ các câu không theo cấu trúc ngữ pháp.
Theo Leon trong Leon’s Planet, năng lực ngôn ngữ của người học được biểu hiện trong sơ đồ của Bachman (1990) trong hình 1. above is from: Bachman, 1990, in Brown, 1994:229 Hình 1.1 Sơ đồ năng lực ngôn ngữ Theo hình 1.1, năng lực ngôn ngữ bao gồm năng lực tổ chức và năng lực ứng dụng thực tế. Năng lực tổ chức (organizational competence) nghĩa là người học có khả năng sắp xếp được những yếu tố nhỏ nhất có ý nghĩa của từ, sắp xếp các từ và câu để tạo nên ý nghĩa. Năng lực ngữ pháp (grammatical competence) là người học có khả năng sắp xếp ngôn ngữ ở mức độ câu.Để làm điều này, người học cần có kiến thức về nghĩa của từ, cấu tạo của từ, cách phát âm của từ và vị trí của từ trong câu.
Năng lực tạo văn bản (textual competence) là khả năng tổ chức ngôn ngữ ở mức độ kết cấu. Các câu trong một tác phẩm phải liên kết với nhau theo một trật tự hợp lý và có khả năng thuyết phục. Năng lực ứng dụng là khả năng sử dụng ngôn ngữ theo cách thích 19 z hợp với xã hội. Năng lực ngụ ý là khả năng diễn đạt ý tưởng của mình, yêu cầu người khác làm điều mình muốn, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những ý trừu tượng.
Năng lực ngôn ngữ xã hội là khả năng ngôn ngữ được chấp nhận về mặt văn hóa, xã hội hoặc địa phương. Có thể thấy qua sơ đồ trong hình 1.1, năng lực ngôn ngữ của người học thể hiện ở các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Người học có thể diễn đạt ý tưởng của mình, có thể nghe hiểu hoặc đọc hiểu ý tưởng của người khác[24]. Để làm được điều này người học cần có kiến thức nhất định về ngữ pháp và từ vựng.
Những kiến thức mà người học thu nhận được trong việc học một ngôn ngữ liên quan đến những lĩnh vực khác nhau của đời sống cũng như văn hóa xã hội[30]. Vesna Bagaric, trường đại học Osijek, và Jelena Mihaljevic Djigunovic, trường đại học Zagreb, trong bài viết “Định nghĩa năng lực giao tiếp”đăng trên tạp chí khoa học năm 2007 đề cập đến sự khác nhau về cơ bản giữa “năng lực” (competence) và “khả năng”(capacity), mối quan hệ giữa “năng lực” (competence) và “cách trình bày” (performance). Các tác giả cũng đề cập đến các mô hình khác nhau liên quan đến năng lực ngôn ngữ. Tuy nhiên, cũng như Leon, mô hình của Bachman cũng được các tác giả lưu ý nhiều hơn vì tính chất chi tiết và đầy đủ của nó trong việc mô tả các yếu tố tạo nên năng lực ngôn ngữ [31].Vì thế để biết được năng lực ngôn ngữ của cá nhân nào, chúng ta phải xem xét cách thể hiện của họ thông qua các kỹ năng của ngôn ngữ.
Đánh giá ngôn ngữ (language assessment) Đánh giá một ngôn ngữ là một lĩnh vực nghiên cứu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học ứng dụng [24]. Nó tập trung chủ yếu vào việc đánh giá các ngôn ngữ thứ nhất, thứ hai hay các ngôn ngữ khác trong trường học, cao đẳng hay đại học, các ngôn ngữ dùng ở công sở, ngôn ngữ của người nhập cư, của các công 20 z dân và ở các bệnh viện tâm thần.Việc đánh giá này có thể bao gồm cả nghe, nói, đọc, viết hay sự hiểu biết về một nền văn hóa. Theo Jan H Hulstijn (2011), thuộc trường đại học Asmterdam, khái niệm “cấp độ” (“level”) đã được xem xét một cách nghiêm túc trong hầu hết các phạm vi đánh giá ngôn ngữ thứ hai. Tác giả cũng đề nghị cách đánh giá ngôn ngữ thứ hai sử dụng Khung tham chiếu chung châu Âu làm nền tảng vì nó đáp ứng được nhu cầu của các học viện và cá nhân về khả năng của các ứng cử viên dựa trên những bài tập thích hợp với thực tế[21, 25,28].
Khung tham chiếu chung châu Âu Khung trình độ chung châu Âu, tên đầy đủ là Khung quy chiếu về trình độ ngôn ngữ chung châu Âu (Common European Framework of Reference for languages), viết tắt là CEFR, bao gồm việc học, dạy và đánh giá, là công cụ hướng dẫn được sử dụng để mô tả kết quả đạt được của người học ngoại ngữ trên khắp châu Âu và tăng dần sang các nước khác. Theo J Charles Anderson [16], thuộc bộ môn ngôn ngữ học của trường đại học Lancaster, Khung tham chiếu chung châu Âu đạt 2, 44/3 điểm xét về mặt hữu ích của nó, đạt 2,7/3 xét về mặt kiểm tra, đánh giá và chứng nhận. Khung tham chiếu chung châu Âu có ích nhất cho những người tổ chức thi (đạt 2,88/3 điểm). Tác giả cũng đề cập đến những ngữ cảnh mà trong đó Khung tham chiếu chung châu Âu được dùng một cách hữu hiệu: xây dựng khung chương trình, đánh giá mức độ thông thạo ngôn ngữ của giáo viên, đưa ra khung tham khảo chung cho việc kiểm tra đánh giá,…Tác giả cũng lưu ý rằng Khung tham chiếu chung châu Âu được chấp nhận rộng rãi trên thế giới [12, 21, 23, 25, 26].
Vũ Thị Phương Anh (2006) trong bài viết đăng trên tạp chí Khoa học và phát triển công nghệ, tập 9, giới thiệu về Khung tham chiếu chung châu Âu và đề 21 z xuất một số cải tổ việc thiết kế chương trình và đánh giá năng lực đầu ra môn tiếng Anh trên cơ sở sử dụng Khung tham chiếu chung châu Âu làm nền tảng nhằm nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả giảng dạy. Trong loạt bài viết đăng trên báo tuổi trẻ tháng 10/2007 “Học tiếng Anh trong trường 10 năm không sử dụng được: Đâu là nguyên nhân, đâu là giải pháp”, Vũ Thị Phương Anh(2007) đề cập đến một trong những nguyên nhân của việc đào tạo tiếng Anh không hiệu quả là do thiếu hiểu biết về vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá và thiếu những tiêu chí thống nhất làm cơ sở đánh giá trình độ người học.Từ đó tác giả đề xuất xây dựng mức trình độ đầu ra trên cơ sở nền tảng là sử dụng Khung tham chiếu chung châu Âu là cơ sở tham khảo. Quyển “A Teacher’s guide to the CEFR” của nhà xuất bản Pearson Longman mô tả chi tiết những cấp bậc trình độ Anh ngữ của người học, cung cấp cho người dạy và người học một cái nhìn sâu hơn về Khung tham chiếu chung châu Âu và cho thấy nó ảnh hưởng tích cực thế nào đến việc dạy, học và đánh giá. David Little và Radka Perclava (trích trong Phan Xuân Thảo) khi nói về lợi ích của Khung tham chiếu chung châu Âu cho rằng khung tham chiếu này “….
làm cho quá trình học ngôn ngữ rõ ràng hơn đối với người học, giúp họ phát triển năng lực phản xạ và tự đánh giá, và vì thế dần dần khuyến khích họ có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình….