Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về tính dễ tổn thƣơng - Các khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng, sự cần thiết của đánh giá tổn thƣơng do lũ. Tình hình về lũ lụt và những tổn thƣơng do lũ lụt. - Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc - Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội lƣu vực sông Thạch Hãn Chƣơng 2: Cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt - Khái quát một số công thức tính chỉ số tính dễ bị tổn thƣơng do lũ đã và đang đƣợc áp dụng hiện nay. - Lựa chọn các chỉ số để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ cho lƣu vực sông Thạch Hãn (khu vực có ngập lụt).
Chƣơng 3: Thử nghiệm công thức Balica tính toán chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng cho vùng mƣa lũ (có ngập lụt) lƣu vực sông Thạch Hãn Thiết lập bộ tiêu chí, đánh giá tổn thƣơng và thử nghiệm công thức tính toán chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng cho vùng mƣa lũ (có ngập lụt) lƣu vực sông Thạch Hãn. Trên cơ sở áp dụng công thức Balica tính toán tính tổn thƣơng do lũ lƣu vực sông Thạch Hãn với bộ tiêu chí với 37 chỉ số và áp dụng phƣơng pháp tính trọng số Iyengar – Sudarshan để xem xét, đánh giả tổn thƣơng cho các xã (có ngập lụt) trên lƣu vực nghiên cứu. Kết luận, kiến nghị 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH TỔN THƢƠNG 1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng 1.
Khái niệm chung về tính dễ tổn thương Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng đã đƣợc đề cập trong nhiều thập niên qua, đã đƣợc hình thành, phát triển từ chỗ chỉ xem xét các khái niệm đơn lẻ về tự nhiên hoặc xã hội với các khái niệm mang tính tổ hợp tự nhiên và xã hội. Đến nay, ngoài các yếu tố tự nhiên, xã hội, khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng còn mở rộng xem xét đến các yếu tố kinh tế và môi trƣờng. Vì vậy, khái niệm vẫn đang còn đƣợc tiếp tục hoàn thiện và phát triểt, phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học, công nghệ và nhận thức của cộng đồng. Các khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua tùy theo các cách tiếp cận, hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng.
Do đó, có nhiều cách đánh giá tổn thƣơng nhƣ tổn thương tự nhiên, tổn thương kinh tế, tổn thương xã hội. Cụ thể; Ngành khoa học xã hội thì tính dễ bị tổn thƣơng lại tập trung vào nhận thức, năng lực của con ngƣời để đối phó với những mối nguy hiểm, kịp thời khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Ngành khoa học tự nhiên khác với ngành xã hội là tính dễ bị tổn thƣơng mục đích của họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thƣơng mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống. Một số nghiên cứu khác lại đƣa ra khái niệm nhƣ: Theo tổ chức chiến lược giảm nhẹ thiên tai thế giới (ISDR, 2004) “Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc mô tả bởi nhƣ là các điều kiện xác định bởi các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế và môi trƣờng hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng”.
Theo báo cáo đánh giá lần 3 của IPCC thì “Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ dễ bị ảnh hƣởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đối phó đƣợc với các tác động của biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm đặc trƣng của cƣờng độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị lộ diện, bao gồm cả độ nhạy và khả năng thích ứng”. Khái niệm của Viện giáo dục UN SCO-IHE “Tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ gây hại có thể đƣợc xác định trong những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, tính dễ bị tổn thƣơng có nhiều cách tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp và xác định tính dễ bị tổn thƣơng thông qua bộ chỉ số đối với một lƣu vực sông cụ thể là do cách tiệp cận có tính khả thi tùy thuộc vào mức độ nghiên cứu lƣu vực và tài liệu thu thập.
Nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng đã đƣợc Gabor và Griffith (1980) đã định nghĩa “Tính dễ bị tổn thương là mối đe dọa (để vật liệu nguy hiềm) đối với người tiếp xúc trong đó tính dễ bị tổn thương là một trong những thành phần của rủi ro”[13]. Cách tiếp cận này chủ yếu xét mức độ tổn thất trƣớc các tai biến tự nhiên về độ lớn hay tần xuất xuất hiện. Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu - IPCC (2001) “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó,tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới” [27 ]; hay theo Joanne Linnerooth-Bayer, (2010) cho rằng “Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, tai biến, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái”; tính dễ bị tổn thƣơng đã đƣợc xem xét một cách toàn diện hơn về các thành phần tai biến, tính nhạy của xã hội, khả năng chống chịu, môi trƣờng và thích ứng tai biến của cộng đồng [28]. Nguyễn Mai Đăng, (2010, 2011) [5], đã đƣa ra khái niệm tính dễ tổn thƣơng đƣợc tác giả mở rộng và khái quát hơn: Mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng chống lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác.
Mặt khác; theo định nghĩa của Liên hợp quốc (UN 1982), tính dễ bị tổn thƣơng lũ lụt đƣợc xem nhƣ là mức độ thiệt hại của mỗi yếu tố nhƣ dân cƣ, nhà ở, các công trình nông nghiệp, đất hay là một tập hợp các yếu tố đó sau mỗi trận lũ với một mức độ mạnh, yếu sẽ đƣợc biểu diễn theo thang mức độ từ 0 đến 1 (trong đó, 0 là không có thiệt hại và 1 là tổng thiệt hại) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt đƣợc dựa trên khái niệm của Viện Giáo dục ngành nƣớc UNESCO-IHE định nghĩa “Tính dễ bị tổn thƣơng lũ lụt là mức độ thiệt hại có thể xác định trong điều kiện nhất định qua độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng phục hồi” [4]. Janet Edwards (2007) [29] đã đƣa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt “là bản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà con ngƣời, môi trƣờng thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng nhƣ thiệt hại về ngƣời, gây ô nhiễm môi trƣờng”. Quan điểm của IPCC (2012) định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và khó có thể chống chịu với các tác động tiêu cực của lũ lụt, được xác định thông qua các tiêu chí nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu” Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa “Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt là việc xem xét thử nghiệm tiếp xúc, nhạy cảm và các chỉ số đối phó của ngƣời dân trong khu vực nghiên cứu”. tuy vậy, có nhiều cách đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng hoặc trực tiếp hay gián tiếp để xác định tổn thƣơng thông qua bộ chỉ số đối với một lƣu vực cụ thể.
Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt còn đƣợc nhận định là việc xem xét lựa chọn, tiếp xúc, sự nhạy cảm và các chỉ số đối phó của ngƣời dân trong khu vực nghiên cứu. Phân tích các chỉ số này giúp nhận ra đặc tính dễ bị tổn thƣơng của ngƣời dân bị ảnh hƣởng và tác động tới quản lý nguy cơ lũ lụt. Khi định lƣợng đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu. Hiện nay có rất nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng.
Theo thời gian quan điểm tiếp cận đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng ngày càng hoàn thiện và cho thấy tính toàn diện, đa chiều (tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trƣờng). Các định nghĩa theo các hƣớng tiếp cận khác nhau về tính dễ dễ bị tổn thƣơng đã thể hiện sự phát triển về quan điểm và hƣớng nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con ngƣời và tác động của thiên tai gây nên các tổn thƣơng khác nhau. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổn thương do lũ Lũ lụt là hiện tƣợng thiên tai gây tác động lớn đối với con ngƣời, cho nền kinh tế và toàn xã hội.
Trong những năm gần đây, lũ lụt càng ngày càng khốc liệt và khó lƣờng trƣớc đƣợc. Thống kê hàng năm cho thấy, số lƣợng ngƣời bị ảnh hƣởng bởi lũ lụt tăng dần từ 147 triệu ngƣời/năm từ (1981-1990) đến 211 triệu ngƣời/năm (1991-2000) [1]. Ở Việt Nam, từ xƣa đến nay ngƣời dân đã phải đối mặt với lũ lụt và tai biến diễn ra rộng khắp cả nƣớc. Tuy nhiên, khu vực Miền Trung là khu vực chịu ảnh hƣởng lớn nhất bởi sông ngòi có độ dốc lớn, sự tập trung nƣớc cao, thời gian lũ lên rất nhanh do thời gian chảy truyền ngắn nên gây khó khăn cho công tác quản lý phòng chống lũ lụt gây thiệt hại cả ngƣời và của trên khu vực miền trung mỗi khi có lũ.
Chính vì những thiệt hại to lớn gây ra nhƣ vậy đối với đời sống, kinh tế, xã hội mà một trách nhiệm to lớn đƣợc đặt ra cho các nhà nghiên cứu quan tâm hơn về giải pháp ứng phó với lũ lụt và để giảm nhẹ thiên tai cho nhân dân Miền Trung nói riêng và Việt Nam nói chung. Sự cần thiết của đánh giá tổn thương do lũ Ngày nay tai biến lũ lụt xảy ra ngày càng lớn cả về quy mô lẫn tần suất gây thiệt hại khôn lƣờng về ngƣời và của.