phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn chia làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu Chƣơng 2: Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Các khái niệm và tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống đƣợc sử dụng theo Thông tƣ số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006). Khái niệm: Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”.
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, phƣờng, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời”. Tiêu chí để công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống nhƣ sau: - Nghề truyền thống: nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, (2) Nghề tạo ra những sản phảm mang bản sắc văn hóa dân tộc, và (3) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. - Làng nghề: Làng nghề đƣợc công nhận phải đạt 03 tiêu chí: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận và (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
- Làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống. Phát triển bền vững: Định nghĩa “Phát triển bền vững” (PTBV) đƣợc đƣa ra trong Báo cáo “Tƣơng lai của chính ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (WCED, 1987) nhƣ sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đƣợc những nhu cầu hiện tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Trong 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 2014 của Việt Nam, “PTBV là phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tƣơng lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trƣởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT”. Tính bền vững Khái niệm “Tính bền vững” (Sustainability) đƣợc đƣa ra trong báo cáo “Tƣơng lai của chúng ta” (WCED, 1987), trong đó nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế toàn cầu nhƣng vẫn đảm bảo duy trì những hệ sinh thái cốt lõi, hỗ trợ sự cân bằng sinh thái dài hạn.
Tính bền vững thƣờng đƣợc vận dụng nhằm đánh giá khả năng duy trì, phát triển của một hệ thống nhất định hoặc tích hợp các hệ thống. Tính bền vững chính là khả năng duy trì sự nâng cao chất lƣợng cuộc sống con ngƣời hiện tại trong khuôn khổ đảm bảo duy trì chức năng của hệ thống sinh thái, nhấn mạnh sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong điều kiện môi trƣờng hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ hiện tại, nhƣng phải đảm bảo cho các thế hệ tƣơng lai những điều kiện tài nguyên và môi trƣờng cần thiết để họ có thể phát triển kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng khái niệm về tính bền vững có mối liên quan với PTBV, nhƣng PTBV có sự nhấn mạnh hơn đến phát triển hài hòa mối liên kết giữa 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trƣờng; còn tính bền vững tiếp cận theo hƣớng duy trì lâu dài các chức năng và giá trị của tài nguyên và môi trƣờng cho con ngƣời (Kajikawa, 2008). Tổng quan tài liệu 1.
Trên thế giới Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến làng nghề trên thế giới, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số nhƣ: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của Noace (1928)…(Ngô Trà Mai, 2008). Đối với các quốc gia đang phát triển và có truyền thống văn hóa nhƣ các quốc gia châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn. Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quố c, Ấn Độ, Thái Lan. Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hƣơng Trấn, tăng trƣởng với tốc độ 20 - 30 % đã giải 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết đƣợc 12 triệu lao động dƣ thừa ở nông thôn (Trần Minh Yến, 2003).
Tại Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật nghề truyền thống” (Trần Minh Yến, 2003). Lin và Jia (2016) đã nghiên cứu, phân tích sự chuyển đổi của làng Xiaqiao nhằm đánh giá tính bền vững cũng nhƣ khả năng thích ứng với những thay đổi trong khoảng thời gian 300 năm. Nghiên cứu đã chỉ ra một làng nghề có thể bền vững hàng trăm năm nếu cộng đồng địa phƣơng tái phân bố lại cho phù hợp với thay đổi trong phát triển cấu trúc hạ tầng (Lin và Jia, 2016). Gao và Wu (2017) đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình tích hợp du lịch nông thôn với sinh kế bền vững tại các làng nghề truyền thống tại Trung Quốc.
Nghiên cứu trƣờng hợp tại làng nghề Yuanjia cho thấy đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa 3 khía cạnh của mô hình (vật chất, xã hội, tinh thần) là những cách thức hiệu quả để phục hồi thành công làng nghề này (Gao và Wu, 2017). Vấn đề phát triển du lịch trong các làng nghề truyền thống cũng đƣợc nghiên cứu bởi Dewi (2014). Nghiên cứu này cho thấy phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống có thể mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phƣơng, tuy nhiên sự phát triển không đƣợc quản lý tốt có thể gây suy thoái môi trƣờng và ảnh hƣởng đến truyền thống văn hóa làng nghề cũng nhƣ làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột giữa chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng. Các phƣơng pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi tại làng nghề Pancasari dựa vào các tiêu chí du lịch bền vững làng nghề truyền thống (kinh tế, xã hội, du lịch, môi trƣờng) đƣợc thực hiện nhằm xác định các yếu tố cốt lõi ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề cũng nhƣ du lịch bền vững làng nghề (Dewi, 2014).
Hailemichael và nnk (2017) đã đánh giá hiện trạng và các yếu tố chi phối (kỹ thuật, hộ gia đình, cơ sở hạ tầng, thể chế, chính sách) nghề truyền thống sản xuất gia cầm tại Ethiopia. Nghiên cứu này cũng đề xuất giải pháp cải thiện hiệu suất sản xuất thông qua áp dụng đồng thời việc ứng dụng công nghệ với hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và thể chế phù hợp với mục tiêu của các nhóm hộ gia đình. Nhiều nghiên cứu về đánh giá tính bền vững đƣợc thực hiện ở nhiều khu vực trên thế giới, điển hình là ở Nhật Bản (Komiyama và Takeuchi, 2006), Trung Quốc (Yu và nnk, 2016), Pháp (Cissé và nnk, 2014), Tây Ban Nha (Jurado và nnk, 2012) và 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, chƣa có nhiều các nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm đánh giá tính bền vững của nghề truyền thống.
Một số nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững đƣợc thực hiện nhƣ các nghiên cứu của Durham và Litterll (2000), Patricia và nnk (2011), Santitaweeroek (2008), Mahanty và nnk (2012) (Các nghiên cứu này được trình bày chi tiết trong mục 1. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, các làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời, các vấn đề về làng nghề đƣợc nghiên cứu chú trọng các khía cạnh KT-XH, văn hóa và môi trƣờng. Báo cáo môi trƣờng quốc gia 2008 về môi trƣờng làng nghề Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2008) là báo cáo đề cập toàn diện nhất về các vấn đề lịch sử phát triển và phân loại làng nghề Việt Nam, vai trò của làng nghề trong sự phát triển KT-XH, những tồn tại và xu thế phát triển làng nghề, hiện trạng ô nhiễm môi trƣờng làng nghề (khí, nƣớc, chất thải rắn) và dự báo xu thế ô nhiễm môi trƣờng làng nghề, tác động của ô nhiễm môi trƣờng làng nghề đến sức khỏe cộng đồng, KT-XH, hiện trạng và các bất cập trong quản lý môi trƣờng làng nghề, giải pháp bảo vệ môi trƣờng làng nghề Việt Nam (thể chế, quy hoạch, quản lý, công nghệ, khuyến khích sản xuất sạch hơn, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm, xã hội hóa công tác bảo vệ môi trƣờng làng nghề và đa dạng hóa đầu tƣ tài chính cho bảo vệ môi trƣờng làng nghề). Khía cạnh KT-XH làng nghề cũng đƣợc tập trung nghiên cứu.
Trong, công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, Bùi Văn Vƣợng (2002) đã đƣa ra bức tranh khá tổng quát về các nghề và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trong quá khứ cũng nhƣ hiện tại, đồng thời thể hiện những trăn trở về nghề thủ công Việt Nam. Trong công trình “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Trần Minh Yến, 2003); “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hƣớng công nghiệp hóa nông thôn ở nƣớc CHXHCN Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật (2002)… đã tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng KT-XH và đƣa ra các giải pháp về chính sách, kinh tế, tài chính cho phát triển làng nghề. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc bảo tồn và phát triển làng nghề cũng đặt ra nhiều vấn đề và thách thức.