ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay đa dạng sinh học đóng vai tr quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên cùng với mối quan hệ với con ngƣời với thiên nhiên.Tuy nhiên đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng. Đặc biệt là số lƣợng và thành phần loài động thực vật cũng đang dần dần mất đi và có nguy cơ tuyệt chủng. Do vậy, bảo tồn đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề đƣợc quan tâm đặc biệt, mà chủ yếu là tại các Vƣờn Quốc Gia. u lịch sinh thái cũng đƣợc coi là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ sự đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả.Trong những năm gần đây, du lịch sinh thái đã có những biến đổi mạnh mẽ, dần trở thành xu thế trên toàn cầu.
Nằm ở khu vực Đông Nam ,Việt Nam,có những lợi thế về vị trí địa l ,kinh tế, giao lƣu quốc tế u thế của thế thới có nhiều điểu kiện và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với những ƣu thế của thiên nhiên nhiệt đới m, địa hình, cảnh quan đa dạng với nhiều hệ sinh thái điển hình khác nhau từ v ng núi cao nguyên đến v ng đồng bằng ven biển và hải đảo. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch nói riêng và công cuộc phát triển kinh tế ã hội của nƣớc ta nói chung, du lịch sinh thái là loại hình cần đƣợc đ y mạnh phát triển trên cơ sở khai thác hợp l các thế mạnh tiềm năng của tài nguyên du lịch nƣớc ta. Khu Vƣờn Quốc Gia (VQG) Xuân Thủy nằm trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định , đƣợc đánh giá là có tiềm năng phát triển, là trọng điểm du lịch của tỉnh còn là một mẫu chuần điển hình của hệ sinh thái ngập nƣớc cửa sông ven biển ở khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Năm 1989, v ng bãi triều ở Xuân Thủy trở thành khu đất ngập nƣớc đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam tham gia công ƣớc RAMSAR, là công ƣớc bảo vệ về các v ng đất ngập nƣớc có tầm quan trọng thế giới , đặc biệt là nơi cƣ trú của chim nƣớc.VQG Xuân Thủy có điều kiện giao thông thuận lợi cả về đƣờng bộ và đƣờng sông nơi đây sẽ là thắng cảnh thu hút các du khách ở các nơi.
Đến đây, du khách vừa h a 1 mình vào thế giới của các loài chim nƣớc quý hiếm vừa đƣợc ngắm cảnh và tận hƣởng chốn thiên nhiên sông nƣớc. Tuy nhiên, nhìn chung du lịch tại khu vực tỉnh Nam Định và du lịch VQG Xuân Thủy hiện nay vẫn chƣa đánh giá đƣợc tiềm năng du lịch, cũng nhƣ các tuyến điểm du lịch cần khai thác nơi đây mang lại, chƣa làm rõ đƣợc những thuận lợi cũng nhƣ khó khăn trong việc phát triển du lịch. Hoạt động phát triển du lịch thiếu kiểm soát có thể ảnh hƣởng đến sinh thái, các loài động thực vật hay cải tạo trong các khu nuôi trồng thủy hải sản làm mất sinh cảnh sống, làm cản trở các loài di chuyển tìm mồi, giao phối hoặc sinh sản,. Vậy làm thế nào để có thể khai thác, phát triển các tiềm năng du lịch tại các khu bảo tồn, khu hu lịch sinh thái với mục tiêu phát triển bền vững.
Do vậy, tôi chọn đề tài “Đánh iá i n n ị h inh hái n i n với ảo ồn ạn inh họ ại Vườn Q ố Gi X ân Thủy, ỉnh N Định”. Mục đính của đề tài nhằm đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái của khu vực từ đó đề uất bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2 Du lịch sinh thái Là loại hình du lịch di n ra trong các v ng có hệ sinh thái tự nhiên c n bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngƣỡng, thƣởng thức phong cảnh, động thực vật cũng nhƣ các giá trị văn hóa hiện hữu. Theo Hector Ceballos-Lascurarin, một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái, định nghĩa lần đầu tiên về du lịch sinh thái năm 1987 nhƣ sau: “ u lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhi m hoặc ít bị áo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thƣởng ngoạn phong cảnh và giới động - thực vật hoang dã, cũng nhƣ những biểu thị văn hóa cả quá khứ và hiện tại đƣợc khám phá trong những khu vực này”.
Trích trong bài giảng du lịch sinh thái Nguy n Thị Sơn, 2007. Một định nghĩa khác, u lịch sinh thái là du lịch tại các v ng c n chƣa bị con ngƣời làm biến đổi. Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phƣơng” Theo L. "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch di n ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngƣỡng, thƣởng thức phong cảnh, động thực vật cũng nhƣ các giá trị văn hoá hiện hữu" (Theo Boo, 1991).
Ở Việt Nam, du lịch sinh thái mới nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Trong Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lƣợc phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam”, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đƣa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam nhƣ sau: “ u lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trƣờng, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng”. 3 Những nguyên tắc cơ bản trong phát triển du lịch sinh thái: Đầu tiên du lịch sinh thái phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, khám phá và tìm hiểu tự nhiên của con ngƣời. Tiếp đến là hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ở các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn nói chung.
Ngoài ra nó c n hỗ trợ kinh tế, tạo thêm những lợi ích về lâu dài cho cộng đồng dân địa phƣơng. u lịch sinh thái có 5 đặc trƣng: Thứ nhất, là các sản ph m, tài nguyên du lịch sinh thái phải thuộc về thiên nhiên. Thứ hai, du lịch sinh thái không đƣợc tách rời với giáo dục môi trƣờng sinh thái. Thứ ba, nó có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng.
Thứ tƣ, phải quy định rõ những việc đƣợc làm và không đƣợc làm. Cuối c ng là mang lại lợi ích kinh tế tỷ lệ G P du lịch trong tổng G P vào khoảng 5. Trích trong bài giảng du lịch sinh thái Nguy n Thị Oanh, 2014. Đó là những đặc trƣng quan trọng nhất của du lịch sinh thái nhằm ác định đúng cho khái niệm du lịch snh thái và định hƣớng phát triển du lịch sinh thái.
Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái : Theo rumm, năm 2002 thì du lịch sinh thái có các yêu cầu sau: u lịch sinh thái phải ít gây ảnh hƣởng đến tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn và vƣờn quốc gia; phải thu hút đƣợc sự tham gia của cá nhân, cộng đồng, khách du lịch sinh thái, các nhà điều hành tour và các tổ chức cơ quan chính phủ; tôn trọng văn hóa truyền thống địa phƣơng cũng là yêu cầu cần phải có đối với du lịch sinh thái; tạo nguồn thu nhập lâu dài và bình đ ng cho cộng đồng địa phƣơng và các bên tham gia khác bao gồm cả những nhà điều hành tour tƣ nhân; tiếp đến là tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên và giáo dục những ngƣời tham gia về vai tr của họ trong công tác bảo tồn. Nếu đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên thì mới đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một khu du lịch sinh thái. 4 Theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 tháng 12/2001 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X (luật du lịch : “ LST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phƣơng, với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Du lịch sinh thái c n đƣợc biết đến với nhiều tên gọi khác nhau: Du lịch thiên nhiên ( Natural tourism) Du lịch dựa vào thiên nhiên ( Natural- based tourism) Du lịch môi trƣờng ( Environmental tourism) Du lịch đặc thù (Particular tourism) Du lịch thám hiểm (Adventure tourism) Du lịch bản xứ ( Indigenours tourism) Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism) Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism) Du lịch cạnh tranh ( Cottages tourism) Du lịch bền vững ( Sustainable tourism) 1.2 Đa dạng sinh học Theo định nghĩa của Qu Quốc tế về ảo tồn Thiên nhiên World Wildlife und thì đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của cuộc sông trên Trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là các nguồn gen và là các hệ sinh tháiphức tạp c ng tồn tại trong môi trƣờng sống.3 Các điều kiện để phát triển sinh thái Thứ nhất, là điều kiện về tài nguyên tự nhiên, văn hoá bản địa phải có tính đặc thù cao của hệ sinh thái. Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái phải là những tài nguyên c n tƣơng đối nguyên sơ, chƣa bị con ngƣời can thiệp hoặc ít thay đổi, trong một số giới hạn thì những thay đổi do con ngƣời gây ra đối với tự nhiên phải là những thay đổi chấp nhận đƣợc với khả năng tái tạo cao.
Nhƣ vậy du lịch sinh thái không cho phép con ngƣời can thiệp vào các hệ sinh thái tự nhiên, cho d đó là những can thiệp mang lợi ích kinh tế - xã hội cho con ngƣời 5 và dù con chấp nhận đề bù bằng vật chất cho những thiệt hại mà họ định gây ra với thiên nhiên. Thứ hai, sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong việc phát triển du lịch bền vững. Du lịch sinh thái chỉ hấp dẫn và càng trở nên hấp dẫn hơn khi có sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng, họ có đƣợc những kinh nghiệm truyền thống rất quý báu về thiên nhiên giúp mang lại nhiều thông tin bổ ích cho các hƣớng dẫn viên làm việc trong các công ty lữ hành, các cá nhân triển khai những dự án kinh tế nói chung và những dự án về du lịch nói riêng tại một địa bàn nhất định.