ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con ngƣời cùng các loài động thực vật và vi sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi và gắn kết với nhau trong sự tồn tại chung. Rừng đƣợc ví nhƣ “lá phổi xanh” của thế giới, những tác động tiêu cực có thể sẽ gây ảnh hƣởng đến cả một hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái có thể bị phá vỡ.Theo F O, đến năm 1995, tỷ lệ che phủ rừng trên toàn thế giới chỉ còn 35% .Sự thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lƣợng của rừng đã và đang là hiểm học đe doạ trực tiếp tới cuộc sống của con ngƣời. Hiện nay rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng do tác động của con ngƣời nhƣ chặt phá rừng bừa bãi, đốt nƣơng làm rẫy, săn bắt động vật đã làm cho tính đa dạng sinh học của rừng bị mất cân bằng. Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc trừ sâu không những làm giảm diện tích rừng và gây ảnh hƣởng đến cảnh quan môi trƣờng mà còn gây ảnh hƣởng lớn đến khả năng xuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại.
Trong các hệ sinh thái, rừng tự nhiên có tính ổn định cao, không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng. Tuy nhên cũng có nơi xuất hiện sâu bệnh hại rừng tự nhiên thuần loài và cũng có trƣờng hợp phải can thiệp để giảm thiểu thiệt hại của sâu bệnh hại. Mặc dù vậy việc diệt trừ sâu bệnh hại rừng ở đây là ít có ý nghĩa. Hằng năm, dịch sâu bệnh rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn, không những làm giảm chất lƣợng rừng, làm chết cây ƣớc tính thiệt hại vài tỷ đồng mà nó còn làm suy thoái môi trƣờng.
Trƣớc thực trạng đó Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những chủ trƣơng, chính sách để quản lý, bảo vệ, tăng độ che phủ và nâng cao tính đa dạng sinh học của rừng nhƣ: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2005; Luật đa dạng sinh học năm 2008; Kế hoạch phát triển rừng năm 2018; Kế hoạch phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; Ký kết Bản ghi nhớ (MoU) giữa chính phủ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nƣớc Cộng hòa Nam Phi về hợp tác Bảo tồn và Bảo vệ đa dạng sinh học. Những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đã và đang đƣợc triển khai thực hiện trên phạm vi cả nƣớc nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc. Rừng Sến Tam Quy – Hà Trung – Thanh hóa là khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích 350 ha (Bộ NN& PTNT, 1997), đây là khu rừng Sến tự nhiên tập trung duy nhất còn tồn tại ở Việt Nam. Dự án đầu tƣ cho Tam Quy đƣợc Viện 1 điều tra quy hoạch rừng xây dựng vào năm 2000 và đã đƣợc UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt theo Quyết định số 1766/QĐ-UB ngày 13/7/2001với mục tiêu “Bảo vệ bằng được diện tích Sến còn lại.
Nghiên cứu thực nghiệm một vài mô hình nhằm duy trì, mở rộng thêm diện tích khu bảo tồn loài Sến”. Rừng Sến không chỉ cung cấp gỗ, củi và các lâm đặc sản rừng mà còn giữ cho bầu không khí trong lành, giữ nguồn nƣớc tƣới tiêu cho các cánh đồng xung quanh. Ngoài cung cấp gỗ để xây dựng nhà cửa, làm các đồ mộc cao cấp thì Sến còn cung cấp hạt để ép lấy dầu ăn và dùng cho công nghiệp, vỏ cây dùng để lấy chất tanin cho công nghiệp thuộc da. Lá Sến đƣợc Học Viện Quân Y sử dụng làm thuốc chữa bỏng rất hiệu quả và đang đƣợc sử dụng trong hầu hết ở các bệnh viện trên toàn quốc.
Vì vậy năm 1986 theo Quyết định số 194CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng, rừng Sến Tam Quy đã trở thành một trong 87 khu rừng đặc dụng của nƣớc ta và đƣợc quy hoạch là khu bảo tồn nguồn gen loài Sến mật. Để bảo vệ khu vực rừng Sến Tam Quy cần có những biện pháp quản lý để tránh việc sâu hại có thể làm ảnh hƣởng đến tính đa dạng của rừng Sến nói chung và diện tích rừng Sến trên cả nƣớc. Khóa luận tập trung nghiên cứu các thành phần loài sâu hại Sến từ đó đƣa ra các biện pháp phòng trừ hợp lý. Xuất phát từ những vấn đề trên, với nguyện vọng góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn nguồn gen, bảo vệ tính đa dạng sinh học của KBTTN rừng Sến Tam Quy, tôi tiến hành thực hiện đề tài : " Đánh giá thực trạng và nghiên cứu giải pháp quản lý các loài sâu hại cây sến tại khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy - Hà Trung - Thanh Hóa " với mục tiêu góp phần hoàn thiện các biện pháp quản lý sâu hại cây Sến trong khu rừng Sến Tam Quy nói riêng và diện tích rừng Sến trên cả nƣớc nói chung.
2 HƢƠN 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sâu hại là những loài côn trùng gây hại, có tác động xấu đến sinh trƣởng và phát triển của thực vật. Sâu hại cùng với nhện hại, cỏ dại, bệnh hại (nấm, vi khuẩn, viruts, tuyến trùng), gặm nhấm… tạo thành sinh vật gây hại hoặc vật gây hại. Để hạn chế đƣợc những thiệt hại do sâu hại gây ra việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của từng loài để đƣaa ra các biện pháp quản lý chúng sao cho hiệu quả là điều mà nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc quan tâm.Tình hình nghiên cứu về sâu hại trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về côn trùng. Về phân loại côn trùng phải kể đến các nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carl von Linne, ông đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại.
Ông đã xây dựng hệ thống phân loại vê động thực vật trong đó có côn trùng. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX các nhà nghiên cứu về côn trùng mới đƣợc quan tâm và phát triển. Năm 1904 có Krepton, năm 1928 có Martunov, năm 1938 có Weber tiếp tục cho ra bảng phân loại về bộ, họ của côn trùng. Các công trình nghiên cứu này đƣa ra nhiều hệ thống phân loại khác nhau tùy theo tác giả.
Đến nửa thế kỷ XX có các nghiên cứu của Manfred - Koch (1955), A.Metander (1965), Donaldi – Borror và Richard E.White (1970 – 1978) cũng đề cập đến phân loại và nhận biết côn trùng. Các tác giả Watson, More ( 1975) trong “Sổ tay chỉ dẫn về thực tiễn quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM) ” đã đƣa ra hƣớng dẫn sử dụng kỹ thuật sẵn có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp. Ravlin, Haynes 1987 đã sử dụng phƣơng pháp mô phỏng trong quản lý cô trùng ký sinh phục vụ phòng trừ sâu hại họ. Mô hình mà họ sử dụng là sự phối hợp giữa số liệu điều tra ngoài thực địa về mật độ sâu hại, xu hƣớng phát triển của quần thể, mức độ kí sinh và nhiệt độ.
Đây là phƣơng pháp sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không có ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng đơn độc 1 phƣơng pháp này thì biện pháp quản lý chƣa mang tính tổng hợp. 3 Goyer ( 1991) trong “ Phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nước Mỹ” cho rằng: Điều tra thƣờng xuyên thực trạng sâu ăn lá rừng rất quan trọng cho chiến lƣợc sử dụng IPM. Ông chỉ ra việc sử dụng pheromone để bẫy bắt mẫu vật để từ đó tính ra mật độ loài rất quan trọng, ông cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hóa học truyền thống đã gây ảnh hƣởng lớn đến kinh tế và môi trƣờng, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật rừng.
Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình của Trung Quốc. Năm 1987, Thái Bàng Hoa và ao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng Vân Nam .Tài liệu tham khảo quan trọng để phân loại các loài bƣớm ngày là sách của Cổ Mậu Bình, Trần Phƣợng Trân. Các nghiên cứu cơ bản về tập tính và hình thái các loài sâu hại Lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu “Côn trùng rừng Trung Quốc” (Xiao Gangrou), 1991. Nghiên cứu về côn trùng thiên địch có thể tìm thấy trong sổ tay “sổ tay côn trùng thiên địch” , “tạp chí bọ rùa Vân Nam” (Tào Thành Nhất).
Năm 1989 oulson, Sauders, Loh, Oliveria, Bary Drummond và Swain đã có những chuyên đề và công trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng. Thông qua các chƣơng trình, từng bƣớc hoàn thiện IPM giải quyết vấn đề tồn tại và đƣa ra những quyết định phù hợp với quản lý sâu hại lâm nghiệp và có thể thích hợp cho cả nông nghiệp tại thời điểm này.Tình hình nghiên cứu về sâu hại trong nƣớc Các nghiên cứu ở nƣớc ta chƣa nhiều, chủ yếu tập trung nghiên cứu các đặc tính sinh vật học, sinh thái của các loài côn trùng từ đó đề ra các biện pháp quản lý và phòng trừ. Năm 1979, Nguyễn Trung Tín đã có những công trình tƣơng đối hoàn thiện nghiên cứu về loài Ong cắn lá mỡ và từ công trình này Bộ Lâm nghiệp đã ban hành quy trình phòng trừ ong ăn lá mỡ phục vụ thiết thực cho nhu cầu cầu sản xuất gỗ nguyên liệu có các ngành công nghiệp giấy sợi và công nghiệp chế biến gỗ. Từ năm 1987, cơ quan kiểm lâm vùng 1 ( Quảng Ninh), cơ quan kiểm lâm vùng 2 ( Thanh Hóa ) đã nghiên cứu các loài sâu hại, phát hiện một số loài côn trùng ký sinh, côn trùng ăn thịt của Sâu róm thông nhƣ các loài Bọ ngựa, các loài Bọ xít, Kiến, các loài Ruồi, Ong kí sinh… 4 Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm sinh học nhƣ nấm Bạch cƣơng, Lục cƣơng ( Beauveria bassiana và Metazhizium) phục vụ cho việc phòng trừ sâu róm thông từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ninh.
Trần Công Loanh (1989) trong cuốn “ Côn trùng lâm nghiệp” đã viết kỹ về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái đồng thời nêu ra một số phƣơng pháp dự tính dự báo sâu hại và các biện pháp phòng trừ chúng bằng thuốc hóa học. Tuy vậy chƣa đề cập đến nguyên lý phòng trừ tổng hợp.