MỞ ĐẦU 1. Đất đai là 1 nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và nó chính là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Cần thiết cho mọi quá tình sản xuất của ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của mọi con người. Nếu không có đất đai thì các ngành, các xí nghiệp không thể bắt đầu và hoạt động được.
Nói khác đi, không có đất thì không có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người. Trong những năm gần đây đất đai trở thành một vấn đề nổi cộm, đặc biệt đối với đất ở và đất xây dựng do người dân đã ý thức được tầm quan trọng chủa đất đai đối với đời sống xã hội. Kể từ khi nước ta chuển sang nền kinh tế thi trường có sự quản lí của nhà nước thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội và trong cuộc sống của nhân dân. Từ đó, việc tranh chấp đất đai ngày càng nhiều và càng trở nên gay gắt gây mất đoàn kết nội bộ nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự.
Giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được nhiều ngành, nhiều cấp quan tâm. Cao Lộc là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Lạng Sơn, trong những năm gần đây công tác quản lý nhà nước về đất đai đạt được một số kết quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, việc giải quyết tranh chấp đất đai luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. n 2 Trước thực tế đó, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Minh Cảnh em tiến hành nghiên cứu và thực hiện chuyên đề: “Đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2009 – 2013”.
Mục tiêu nghiên cứu. - Tìm hiểu thực trạng tranh chấp đất đai của huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2009-2013. - Tìm hiểu công tác giải quyết tranh chấp đất đai của huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2009-2013. - Tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai và đề xuất những giải pháp khắc phục cho công tác giải quyết tranh chấp của huyện trong thời gian tới.
Ý nghĩa của đề tài. - Khóa luận tốt nghiệp là một cơ hội tốt cho em củng cố kiến thức đã học trong nhà trường và áp dụng vào thực tế công việc. - Khóa luận giúp em nắm được thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp đất đai. - Khoá luận góp phần đề xuất các giải pháp thực hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai để công tác quản lý ngày càng hiệu quả hơn.
Yêu cầu của đề tài. - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao Lộc giai đoạn 2009 – 2013. - Phân tích, đánh giá tình hình quản lí và sử dụng đất đai của huyện Cao Lộc. - Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trong giai đoạn 2009- 2013.
n 3 - Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Luật đất đai đầu tiên của nước ta ra đời vào những năm đầu của tiến trình đổi mới đất nước.
Chỉ vài năm sau khi triển khai, sự nghiệp mới đòi hỏi phải xây dựng luật đất đai mới nhằm tạo hành lang pháp lý cho quan hệ đất đai phục vụ phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa và xây dựng hạ tầng cho kinh tế nông nghiệp và dịch vụ. Năm 1993, Quốc hội đã thông qua luật đất đai lần thứ 2 – luật đất đai năm 1993 với 7 nội dung QLNNVĐĐ được quy định tại điều 113 như sau: 1. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng, lập bản đồ địa chính. Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất.
Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức sử dụng các văn bản đó. Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất. Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý sử dụng đất.
Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết các khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai đòi hỏi thường xuyên liên tục sửa đổi và bổ sung. Năm 1998, Quốc hội thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật đất đai, trong đó trọng tâm là sửa đổi chính sách đất đai phục vụ đầu tư phát triển. Năm 2001 Quốc hội thông qua lần nữa luật bổ sung một số điều luật đất đai với nội dung chủ yếu là đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền định đoạt về luật đất đai cho địa n 5 phương.Tuy nhiên, với hai lần sửa đổi, bổ sung nội dung quản lý nhà nước về đất đai vẫn không thay đổi nhiều so với 7 nội dung về cơ bản giống như Luật đất đai 1993.
Qua 10 năm thực hiện luật đất đai năm 1993, pháp luật về đất đai đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội. Tuy nhiên trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội, pháp luật đất đai đã bộc lộ hạn chế nhất định. Để khắc phục những thiếu sót trên, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật đất đai mới – luật đất đai năm 2003 với 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại khoản 2, điều 16 như sau: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị thường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
Căn cứ pháp lý của công tác giải quyết trang chấp đất đai - Luật đất đai năm 2003. - Luật đất đai sửa đổi năm 2013. - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003. - Thông tư 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về thi hành luật đất đai.
- Nghị định 182/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định về sử phạt hành chính. Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp đất đai Khái niệm về tranh chấp đất đai: Theo khoản 26, điều 4, luật đất đai 2003: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. • Hòa giải tranh chấp đất đai: Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thì hòa giải là công việc bắt buộc và là bước khởi đầu của việc giải quyết tranh chấp đất đai. Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại điều 135 luật đất đai năm 2003 và được quy định chi tiết thêm tại điều 159 nghị định 181 ngày 29/10/2004.
Điều 135 luật đất đai 2003 quy định: n 7 1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải cơ sở.Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai. Thời gian hòa giải là 30 ngày làm việc kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hòa giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai. Nếu hòa giải không thành thì mới giải quyết theo quy định của pháp luật. Điều 136 luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau: Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau: 1.
Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết; 2.