Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm hộ Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác. Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: Theo Tổng cục Thống Kê “Hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi” [10].
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế" [13]. Hay hộ có thể được hiểu như sau: - Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống. - Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình. - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế.
Hộ nông dân Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [15]. n 5 Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [15]. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [6]. Từ các khái niệm trên cho thấy hộ nông dân có những đặc điểm sau: Hộ nông dân là một đơn bị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc. Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung từ tất cả hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phi.
Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thi nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình. Kinh tế hộ nông dân Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn.của gia đình mình là chính”[12]. Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình.
Ngoài ra có thể tiến hành trao đổi, bán cho người khác khi sản phẩm đó đối với họ là không cần thiết [9]. Phân loại hộ nông dân - Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có: + Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường. n 6 + Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường: đây là kiểu nông dân nửa tự cấp có tiếp xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư. + Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động.
- Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có: + Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp. + Hộ chuyên nông: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp. + Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính. + Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ [18].
- Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ: Hộ giàu, hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo và hộ cận nghèo. Sự phân biệt này dựa vào quy định chung của cả nước hoặc quy định của địa phương. Trong đề tài này để đơn giản cho việc phân loại hộ nông dân theo thu nhập, tôi chia thành 3 nhóm tính tại thời điểm điều tra như sau: + Nhóm 1: Hộ có thu nhập lớn hơn 35 triệu. + Nhóm 2: Hộ có thu nhập từ 25 triệu đến 35 triệu.
+ Nhóm 3: Hộ có thu nhập nhỏ hơn 25 triệu. Những nhân tố ảnh hưởng trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi phía Bắc 1. Các yếu tố sản xuất a. Đất đai Các hộ nông dân sản xuất kinh doanh và thu hoạch các sản phẩm chủ yếu từ ruộng đất.
Do đó, đất đai có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sản xuất của kinh tế hộ nông dân cả số lượng lẫn chất lượng. Quy mô đất đai càng lớn càng phản ánh rõ quy mô sản xuất kinh doanh của hộ và ngược lại. Đất đai các tỉnh miền núi phía bắc chủ yếu là đất đỏ vàng, tầng canh tác dày, độ phì nhiêu tương đối cao rất thích hợp với cây chè, cây mía đường, cây ăn quả ôn đới, nhiệt đới. đây được coi như một lợi thế của vùng này.
Tuy nhiên, quy n 7 mô đất đai bình quân mỗi hộ còn thấp, đặc biệt là các hộ sản xuất hàng hóa cần nhiều đất để phát triển trang trại. Vì vậy, để phát triển quy mô ruộng đất các hộ có thể nhận thầu đất của các hộ khác, khai hoang đất trống đồi núi trọc.Vốn Vấn đề vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp là đặc biệt quan trọng. Hiện nay, phần lớn các hộ nông dân ở các tỉnh miền núi còn nghèo vì vậy họ rất cần vốn để sản xuất. Vốn được coi như nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế của nông dân.
Muốn vậy cần có biện pháp thích hợp đáp ứng mong muốn cho các hộ nông dân để họ có vốn sản xuất cần có sự điều chỉnh về cường độ cho vay vốn và thời điểm vay vì sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ. Lao động Quá trình sản xuất được thành lập trên cơ sở kết hợp các tư liệu sản xuất và con người. Vì vậy, lao động có vai trò rất quan trọng với quá trình phát triển của kinh tế hộ nông dân. Nếu không có con người thì không thể tiến hành sản xuất được.
Nếu lao động được đào tạo có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng thành thạo, có khả năng hợp tác và đạo đức nghề nghiệp thì quá trình sản xuất có hiệu quả hơn, năng suất lao động cao hơn. Ngược lại nếu lao động không có trình độ hoặc có trình độ chuyên môn thấp quá trình sản xuất sẽ kém hiệu quả. Các tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm nhiều dân tộc có phong tục tập quán rất đa dạng, trình độ dân trí thấp, trình độ canh tác lạc hậu, lao động chưa qua đào tạo là chủ yếu. Đây coi như một cản trở cho sự phát triển của kinh tế hộ nông dân.
Vì vậy, nâng cao chất lượng lao động các tỉnh miền núi phía bắc được coi như giải pháp cơ bản và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế hộ nông dân các tỉnh miền núi phía bắc. Cơ sở hạ tầng Địa hình các tỉnh miền núi phía Bắc, đa phần là đồi núi, do đó cơ sở hạ tầng vùng này rất phức tạp và kém phát triển. Đường giao thông còn thiếu về cả số lượng lẫn chất lượng. Số đường được giải nhựa rất ít, đường nhỏ, hẹp, nhiều dốc, điều này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình đi lại, vận chuyển hàng hóa của các hộ nông dân.
Nó làm cho quá trình tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn và hạn chế sự đầu tư của các thành phần kinh tế khác vào vùng này. n 8 Hệ thống thủy lợi thiếu hệ thống mương máng nội đồng cũng làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của hộ nông dân, đặc biệt trong mùa khô nhiều nơi vùng cao không có nước tưới làm diện tích gieo trồng bị hạn hán. Do thiếu kênh dẫn nước nội đồng nên các hộ nông dân không chủ động được trong sản xuất, ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng làm cho kết quả sản xuất giảm. Hệ thống điện, trường học, thông tin liên lạc còn yếu kém về nhiều mặt, ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận thông tin của các hộ nông dân, chữa trị bệnh không kịp thời, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao, tỷ lệ trẻ em chưa được đến trường còn cao.
Vấn đề xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng rất phức tạp do tập quán sinh hoạt của các dân tộc khác nhau. Đa phần các hộ nông dân còn nghèo, đời sống khó khăn, thu nhập thấp, các hoạt động văn hóa xã hội không được quan tâm, các tệ nạn xã hội này một gia tăng, sinh đẻ không có kế hoạch.