ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có 108 lƣu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tƣơng đối lớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ thống sông lớn (diện tích lƣu vực lớn hơn 10.000km2), bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long. Tổng lƣợng nƣớc mặt trung bình hằng năm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lƣợng nƣớc đƣợc sản sinh từ nƣớc ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 đƣợc sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam [Thu Hƣơng, 2017]. Nguồn nƣớc này là yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lƣơng thực, an ninh năng lƣợng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tuy nhiên, nguồn nƣớc mặt của nƣớc ta đang bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Chất lƣợng nƣớc mặt của Việt Nam đang có chiều hƣớng ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó, sự gia tăng dân số, gia tăng nhu cầu về nƣớc do gia tăng chất lƣợng cuộc sống, đô thị hoá cũng nhƣ quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nƣớc kém hiệu quả, thiếu bền vững đang là mối đe doa an ninh nguồn nƣớc và có nguy cơ sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ khó lƣờng. Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc đang là vấn đề cấp bách, không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sông Thƣơng bắt nguồn từ vùng núi có cao độ từ 500 700m của huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn, chảy xuyên qua tỉnh Bắc Giang đến gần Phả Lại nhập với sông Cầu.
Sông có chiều dài 157km, diện tích lƣu vực là 3.600km2, chảy qua tỉnh Bắc Giang với chiều dài 89km [Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23/3/2012 của Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy định về danh mục sông liên tỉnh và sông nội tỉnh]. Sông Thƣơng có một tầm quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội đối với các vùng nó chảy qua. Nguồn nƣớc sông Thƣơng không những có giá trị cho các mục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đích dân sinh, mà còn đƣợc sử dụng cho các mục đích sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các mục đích khác. Chính vì vậy, sông Thƣơng cũng đang đứng trƣớc những diễn biến suy thoái cả về chất và lƣợng, khi lƣu vực sông chảy qua những vùng đang có tốc độ phát triển kinh tế xã hội cao đặc biệt là đoạn chảy qua địa bàn của tỉnh Bắc Giang.
Tại Bắc Giang, với nhu cầu khai thác, sử dụng nƣớc trên địa bàn thì sông Thƣơng vẫn là nguồn nƣớc chính đƣợc sử dụng phục vụ nhu cầu nƣớc sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh nhƣ thành phố Bắc Giang và một số vùng lân cận (các nhà máy cung cấp nƣớc sạch khai thác từ nguồn nƣớc mặt sông Thƣơng khoảng 25. Tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc hiện nay không chỉ ảnh hƣởng đến các hoạt động khai thác, sử dụng nƣớc phục vụ cho các mục đích mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe ngƣời dân. Để có những giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nƣớc, giảm thiểu tác động đến môi trƣờng cũng nhƣ sức khoẻ con ngƣời, trong thời gian qua tỉnh Bắc Giang đã tăng cƣờng công tác quản lý, kiểm soát nguồn nƣớc mặt theo quy định. Tuy nhiên, để quản lý cũng nhƣ kiểm soát nguồn nƣớc hiệu quả phải có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể về nguồn nƣớc.
Việc đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nƣớc sông là một công việc rất phức tạp vì bản chất nguồn nƣớc biến đổi theo cả không gian và thời gian. Việc đánh giá thực trạng tài nguyên nƣớc sông Thƣơng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cả về lƣu lƣợng và chất lƣợng và đƣa ra những giải pháp thiết thực nhất giúp bảo vệ môi trƣờng, chất lƣợng nƣớc sông Thƣơng là rất cần thiết. Do đó, đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ tài nguyên nước sông Thương trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” đƣợc thực hiện nhằm tạo cơ sở hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên nƣớc trên địa bàn tỉnh nói chung, với sông Thƣơng nói riêng, phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nƣớc và cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 2.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nƣớc sông trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình ô nhiễm nước sông trên thế giới Nƣớc là một nhân tố quan trọng cấu thành nên môi trƣờng, nhƣng dƣới tác động của sự gia tăng dân số và tăng trƣởng kinh tế, nguồn nƣớc nói chung, đặc biệt là nguồn nƣớc mặt đang ngày càng bị lạm dụng. Quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và biến đổi khí hậu gây áp lực nặng nề lên khối lƣợng và chất lƣợng nguồn nƣớc.
Theo thống kê của Viện Nƣớc quốc tế (SIWI) đƣợc công bố tại Tuần lễ Nước Thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9/2014 thì mỗi ngày trung bình trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả,70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển [Phƣơng Tâm, 2016]. Theo Báo cáo mới đây của Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP) về chất lƣợng nƣớc thế giới, tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc mặt đang ở mức báo động tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, đe dọa đời sống ngƣời dân, gây thiệt hại kinh tế cho các quốc gia. UNEP cảnh báo, hơn 300 triệu ngƣời ở 3 châu lục trên đang có nguy cơ mắc các bệnh dịch tả và thƣơng hàn do tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc [Phƣơng Tâm, 2016]. Nguồn nƣớc phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp ngày càng suy giảm do lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý thải ra các sông, hồ.
Lƣợng nƣớc chƣa qua xử lý thải vào các sông, hồ ngày càng nhiều đã trở thành vấn đề lo ngại hiện nay, nguyên nhân là do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế nhanh tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Báo cáo của UNEP đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn 1990 - 2010, môi trƣờng nƣớc của hơn 50% các dòng sông ở 3 châu lục bị ô nhiễm vi sinh vật và ô nhiễm hữu cơ, đồng thời, nƣớc bị nhiễm mặn cũng tăng gần 1/3. Khoảng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ¼ các con sông ở châu Mỹ Latinh, 10 - 25% sông ở châu Phi và 50% các con sông ở châu Á bị ảnh hƣởng bởi ô nhiễm vi sinh vật, phần lớn là do việc xả nƣớc thải, chất thải, rác thải sinh hoạt chƣa qua xử lý ra sông. Đặc biệt, tại nhiều quốc gia, 90% ngƣời dân sử dụng nƣớc mặt bị ô nhiễm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hoặc cho mục đích tƣới tiêu và bơi lội, tạo mối đe dọa lớn đến sức khỏe.
Theo thống kê trong Báo cáo của UNEP, trung bình mỗi năm có khoảng 3,4 triệu ngƣời chết tại 3 châu lục do các bệnh liên quan đến vi sinh vật gây bệnh có trong nƣớc mặt nhƣ dịch tả, thƣơng hàn, bại liệt, tiêu chảy, viêm gan… và ƣớc tính khoảng 25 triệu ngƣời ở châu Mỹ Latinh, 164 triệu ở châu Phi, 134 triệu ngƣời ở châu Á có nguy cơ lây nhiễm các bệnh trên [Phƣơng Tâm, 2016]. Đặc biệt, ở các ao, hồ, sông và kênh dẫn nƣớc thải, vấn đề ô nhiễm dinh dƣỡng đang làm cho chất lƣợng nƣớc thay đổi theo chiều hƣớng xấu, ảnh hƣởng đến hệ sinh thái. Một trong những hậu quả chính của vấn đề này là hiện tƣợng phú dƣỡng, xảy ra khi dƣ thừa các chất dinh dƣỡng trong môi trƣờng nƣớc, thông thƣờng là hàm lƣợng nitơ (N) lớn hơn 500µg/l và phốtpho (P) lớn hơn 20μg/l. Sự dƣ thừa các chất dinh dƣỡng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các loài tảo, rong, rêu, thực vật phù du trong nƣớc, dẫn đến thiếu dƣỡng khí, cạn kiệt ôxy hòa tan, giảm số lƣợng cá thể cá và các quần thể động vật khác.
Theo Báo cáo của UNEP, 23/25 hồ lớn của thế giới có hàm lƣợng phốt pho lớn, chủ yếu là từ các nguồn nhƣ phân bón, chất thải chăn nuôi, chất thải sinh hoạt. Hầu hết các hồ lớn ở châu Mỹ Latinh và châu Phi hiện có hàm lƣợng phốt pho cao hơn so với năm 1990 [Phƣơng Tâm, 2016]. Tình hình ô nhiễm nước sông ở Việt Nam Ngày nay, các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc ta đều gắn với các lƣu vực sông (LVS) lớn nhƣ hệ thống sông Hồng - Thái Bình, hệ thống sông Đồng Nai, Mê Công. và các cửa sông ven biển, từ đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nƣớc.
Tuy nhiên, điều đó cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực cho môi trƣờng nói chung và môi trƣờng nƣớc nói riêng tại các LVS. Chất lƣợng nƣớc các sông đang diễn biến phức tạp, nhiều nơi bị suy thoái, nhất là các khu vực nội thành, nội thị, các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp (KCN), làng nghề. Nổi cộm nhất là tình trạng ô nhiễm môi trƣờng tại 3 LVS: sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai [Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2009]. LVS Cầu gồm địa giới 6 tỉnh và một phần Thủ đô Hà Nội.
Trong thời gian qua, việc phát triển khai thác và chế biến khoáng sản ở thƣợng lƣu (Bắc Cạn và Thái Nguyên) và mở rộng sản xuất tại các làng nghề khu vực trung và hạ lƣu (Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dƣơng). Tốc độ đô thị hóa cao trong khi phần lớn các đô thị chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung, sự mở rộng nhanh chóng của các KCN, CCN trong khi hệ thống xử lý nƣớc thải chƣa có hoặc vận hành không đúng quy định.Đây là những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc mặt LVS Cầu, nguồn cung cấp 70% nƣớc cấp sinh hoạt và công nghiệp trên địa bàn. Kết quả quan trắc cho thấy, môi trƣờng nƣớc mặt LVS Cầu bị ô nhiễm cục bộ, bắt đầu từ đoạn chảy qua thị xã Bắc Cạn về hạ lƣu (các thông số BOD5, NH4 và TSS đã vƣợt Quy chuẩn quốc gia về chất lƣợng nƣớc mặt QCVN 08:2008/ BTNMT mức AI, xấp xỉ mức BI). Từ đoạn chảy qua TP.
Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm gia tăng đáng kể, các thông số quan trắc đều vƣợt QCVN nhiều lần, nƣớc sông có mùi dầu cốc.