Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững tại xã thanh thủy huyện thanh chương tỉnh nghệ an

Đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững tại Thanh Thủy, Thanh Chương, Nghệ An. Tối ưu hóa bảo vệ tài nguyên rừng.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm về quản lý rừng bền vững, rừng phòng hộ đầu nguồn

2.2. Tổng quan chung về đất lâm nghiệp

2.2.1. Thời kỳ trước năm 1945

2.2.2. Thời kỳ từ năm 1946-1990

2.2.3. Thời kỳ từ năm 1991 đến nay

2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp

2.3.1. Trên thế giới

2.4. Tính cấp thiết vấn đề nghiên cứu

3. PHẦN III: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1. Mục tiêu chung

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2.2. Phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp luận

3.4.2. Phương pháp cụ thể

3.4.3. Phương pháp xử lý ngoại nghiệp

4. PHẦN IV: ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.1. Vị trí địa lý

4.1.2. Địa hình địa mạo

4.1.3. Đất đai thổ nhưỡng

4.1.4. Điều kiện khí hậu thủy văn

4.1.5. Tài nguyên nước

4.1.6. Tài nguyên khoáng sản

4.1.7. Tiềm năng du lịch

4.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

5. PHẦN V: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1. Đánh giá đặc điểm và công tác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn

5.1.1. Đặc điểm rừng phòng hộ đầu nguồn khu vực nghiên cứu

5.1.2. Công tác quản lý rừng phong hộ đầu nguồn

5.2. Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý rừng phòng hộ khu vực nghiên cứu

5.3. Đánh giá hiệu quả quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn

5.3.1. Đánh giá hiệu quả về duy trì diện tích rừng giai đoạn 2000-2017

5.3.2. Hiệu quả về mặt xã hội

5.3.3. Hiệu quả về mặt kinh tế

5.4. Nguyên nhân biến động rừng

5.5. Giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

6. PHẦN VI: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Thanh Thủy

Rừng là tài nguyên quốc gia vô giá, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái rừng và phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An có ý nghĩa chiến lược trong việc điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất và nước, và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Công tác quản lý rừng bền vững tại đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp mà còn là xu thế phát triển chung của thế giới, nhằm đảm bảo sản xuất liên tục các sản phẩm và dịch vụ từ rừng mà không làm suy giảm giá trị vốn có. Thực trạng hiện trạng tài nguyên rừng Nghệ An cho thấy, dù diện tích rừng có xu hướng tăng, chất lượng rừng tự nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Xã Thanh Thủy, với vị trí địa lý miền núi và là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc, đối mặt với nhiều thách thức trong việc cân bằng giữa bảo tồn và phát triển. Việc đánh giá chính xác thực trạng và đề xuất các giải pháp hiệu quả cho công tác quản lý rừng phòng hộ là một yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ giúp bảo vệ đa dạng sinh học mà còn góp phần cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới một mô hình phát triển kinh tế - xã hội xã Thanh Thủy hài hòa và bền vững. Nghiên cứu này tập trung phân tích sâu vào các khía cạnh quản lý, từ đặc điểm tài nguyên, hiệu quả kinh tế - xã hội đến các chính sách liên quan, làm cơ sở khoa học cho các quyết định trong tương lai.

1.1. Vai trò chiến lược của việc bảo vệ rừng đầu nguồn

Rừng phòng hộ đầu nguồn có chức năng cốt lõi là điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy và hồ chứa. Hoạt động này giúp hạn chế lũ lụt vào mùa mưa và cung cấp nước vào mùa khô. Bên cạnh đó, thảm thực vật rừng giúp giảm xói mòn đất, ngăn chặn sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ, qua đó bảo vệ cơ sở hạ tầng và đất nông nghiệp. Một khu rừng đầu nguồn khỏe mạnh, với cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng và độ che phủ tán lá từ 0,6 trở lên, là lá chắn tự nhiên hiệu quả nhất trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc bảo vệ rừng đầu nguồn vì thế không chỉ mang lại lợi ích môi trường mà còn đảm bảo an ninh nguồn nước và an ninh lương thực cho cả một vùng rộng lớn.

1.2. Bối cảnh chung về công tác quản lý rừng tại Việt Nam

Công tác quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thay đổi. Từ cơ chế quản lý nhà nước tập trung sang lâm nghiệp xã hội, nhiều chính sách lâm nghiệp mới đã ra đời. Các văn bản pháp luật như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai, cùng các nghị định về giao đất giao rừng đã tạo hành lang pháp lý quan trọng. Các chương trình lớn như "Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng" đã góp phần tăng độ che phủ. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn đó, đặc biệt là tình trạng suy thoái rừng và áp lực từ nhu cầu phát triển kinh tế. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững như FSC (Forest Stewardship Council) đang dần được quan tâm, mở ra hướng đi mới cho ngành lâm nghiệp Việt Nam.

II. Phân tích thách thức trong quản lý rừng phòng hộ Thanh Thủy

Công tác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Thanh Thủy phải đối mặt với nhiều khó khăn phức tạp, xuất phát từ cả yếu tố tự nhiên và con người. Về mặt tự nhiên, địa hình bị chia cắt mạnh, khí hậu khắc nghiệt với mùa khô kéo dài làm tăng nguy cơ cháy rừng. Về mặt xã hội, sự gia tăng dân số gây áp lực lớn lên tài nguyên. Tình trạng mất rừngsuy thoái rừng vẫn diễn ra do các hoạt động canh tác nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép. Sinh kế người dân địa phương phần lớn vẫn phụ thuộc vào rừng, trong khi các mô hình kinh tế thay thế chưa thực sự phát triển mạnh mẽ. Năng lực của Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương còn hạn chế, đội ngũ cán bộ kiểm lâm mỏng so với diện tích quản lý rộng lớn. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò của cộng đồng trong bảo vệ rừng chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Theo kết quả phân tích SWOT trong nghiên cứu, điểm yếu lớn nhất là kinh phí khoán bảo vệ rừng còn thấp, chưa tạo được động lực đủ mạnh cho người dân tham gia. Thêm vào đó, việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập, chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm, dẫn đến tình trạng "rừng càng ngày càng cạn kiệt".

2.1. Áp lực từ suy thoái rừng và tình trạng mất rừng

Tình trạng suy thoái rừng thể hiện rõ qua sự suy giảm về chất lượng, trữ lượng và tính đa dạng sinh học. Rừng tự nhiên bị tác động mạnh, cấu trúc rừng trở nên đơn giản hơn, khả năng phòng hộ giảm sút. Nguyên nhân chính của tình trạng mất rừng tại địa phương bao gồm việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích khác, khai thác gỗ trái phép và các phương thức canh tác không bền vững như đốt nương làm rẫy. Những hoạt động này không chỉ làm giảm diện tích che phủ mà còn gây ra các hậu quả nghiêm trọng như xói mòn đất, lũ lụt và hạn hán, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người dân.

2.2. Hạn chế trong sinh kế và nhận thức của người dân

Phần lớn các hộ gia đình sống gần rừng tại xã Thanh Thủy có đời sống còn nhiều khó khăn, phụ thuộc lớn vào việc khai thác tài nguyên rừng để sinh tồn. Các hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ, lấy củi, và chăn thả gia súc trong rừng vẫn diễn ra phổ biến. Mặc dù chính sách giao đất giao rừng đã được triển khai, hiệu quả kinh tế mang lại cho người dân chưa cao. Nhận thức của một bộ phận người dân về tầm quan trọng của rừng và các quy định pháp luật còn hạn chế. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn: nghèo đói dẫn đến phá rừng, và phá rừng lại làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói do tài nguyên cạn kiệt và thiên tai gia tăng.

III. Giải pháp chính sách và cộng đồng quản lý rừng phòng hộ bền vững

Để giải quyết các thách thức, việc xây dựng các giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn là yếu tố then chốt cho quản lý rừng bền vững. Một trong những hướng đi quan trọng là tăng cường vai trò của cộng đồng trong mọi giai đoạn của quá trình quản lý, từ lập kế hoạch đến giám sát và hưởng lợi. Cần xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước bảo vệ rừng dựa trên tri thức bản địa và luật pháp nhà nước. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện chính sách lâm nghiệp là yêu cầu cấp bách. Chính sách giao đất giao rừng cần được rà soát, điều chỉnh để đảm bảo người dân thực sự là chủ rừng, có quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng. Cần minh bạch hóa và nâng cao mức hỗ trợ từ các chương trình, đặc biệt là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), để tạo nguồn thu nhập ổn định, khuyến khích người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng đầu nguồn. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần được đổi mới, đi sâu vào từng thôn bản, sử dụng các hình thức trực quan, dễ hiểu để nâng cao nhận thức. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, kiểm lâm và cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, ngăn chặn hiệu quả các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.

3.1. Nâng cao vai trò của cộng đồng trong bảo vệ rừng

Cộng đồng địa phương là những người sống gần rừng, hiểu rừng và có mối quan hệ mật thiết với rừng. Trao quyền và trách nhiệm cho họ là cách tiếp cận hiệu quả nhất để bảo vệ rừng đầu nguồn. Cần thành lập và củng cố các tổ, đội bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, cung cấp trang thiết bị và tập huấn kỹ năng tuần tra, phòng cháy chữa cháy rừng. Việc xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng từ các sản phẩm của rừng, như lâm sản ngoài gỗdu lịch sinh thái, sẽ tạo động lực kinh tế trực tiếp, biến người dân từ người khai thác thành người bảo vệ tài nguyên.

3.2. Hoàn thiện cơ chế giao đất giao rừng và chính sách hỗ trợ

Cơ chế giao đất giao rừng cần đảm bảo tính ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân. Điều này tạo sự yên tâm để họ đầu tư vào phát triển rừng phòng hộ. Song song đó, nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể về vốn, kỹ thuật, và giống cây trồng phù hợp. Đặc biệt, cần đơn giản hóa thủ tục để người dân dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, giúp họ phát triển các mô hình nông-lâm kết hợp, giảm áp lực khai thác lên rừng tự nhiên.

IV. Mô hình kinh tế hiệu quả để quản lý rừng phòng hộ bền vững

Bảo vệ rừng không thể tách rời với việc cải thiện đời sống người dân. Do đó, phát triển kinh tế - xã hội xã Thanh Thủy theo hướng bền vững là một giải pháp căn cơ. Thay vì phụ thuộc vào khai thác gỗ, cần đa dạng hóa nguồn thu nhập từ rừng thông qua các mô hình kinh tế dưới tán rừng. Phát triển lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như măng, dược liệu, nấm... có tiềm năng rất lớn. Việc quy hoạch vùng trồng, hỗ trợ kỹ thuật và kết nối thị trường cho các sản phẩm này sẽ giúp người dân có thu nhập ổn định mà không làm tổn hại đến hệ sinh thái rừng. Một hướng đi tiềm năng khác là phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng. Cảnh quan thiên nhiên hoang sơ của rừng phòng hộ Thanh Thủy là một lợi thế. Xây dựng các tour du lịch trải nghiệm, khám phá văn hóa bản địa có thể tạo ra việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân. Đồng thời, cần tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Việc xác định đúng, đủ các đối tượng cung cấp và sử dụng dịch vụ, áp dụng mức chi trả hợp lý sẽ tạo ra một nguồn tài chính bền vững cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ.

4.1. Khai thác tiềm năng lâm sản ngoài gỗ và du lịch sinh thái

Khu vực rừng Thanh Thủy có sự đa dạng về các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị. Cần tiến hành điều tra, đánh giá tiềm năng và xây dựng các mô hình khai thác, chế biến bền vững. Kết hợp với đó, việc phát triển du lịch sinh thái cần được quy hoạch bài bản, tránh tác động tiêu cực đến môi trường. Các hoạt động như trekking, homestay, tìm hiểu văn hóa địa phương sẽ là sản phẩm hấp dẫn, thu hút du khách và tạo ra lợi ích kinh tế trực tiếp cho cộng đồng, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên.

4.2. Tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng PFES

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là một công cụ kinh tế quan trọng, hiện thực hóa nguyên tắc "người hưởng lợi từ rừng phải trả tiền". Để chính sách này phát huy hiệu quả tối đa tại Thanh Thủy, cần xác định rõ diện tích và chất lượng rừng cung ứng dịch vụ, đảm bảo nguồn thu được phân phối công bằng, minh bạch đến các hộ gia đình nhận khoán. Nguồn kinh phí từ PFES không chỉ hỗ trợ chi phí tuần tra, bảo vệ mà còn có thể tái đầu tư vào các dự án phát triển sinh kế, tạo ra tác động kép cho cả mục tiêu bảo tồn và phát triển.

V. Đánh giá hiệu quả thực tiễn quản lý rừng phòng hộ Thanh Thủy

Kết quả nghiên cứu thực địa và phân tích dữ liệu viễn thám cung cấp một cái nhìn khách quan về hiệu quả công tác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Thanh Thủy. Phân tích ảnh vệ tinh Landsat cho thấy sự biến động đáng chú ý về diện tích lớp phủ rừng trong giai đoạn 2001-2016. Cụ thể, diện tích rừng có sự gia tăng, thể hiện nỗ lực trong công tác trồng mới và khoanh nuôi tái sinh. Tuy nhiên, sự biến động này không đồng đều và chất lượng rừng ở một số khu vực vẫn còn thấp. Về mặt xã hội, kết quả phỏng vấn 20 hộ gia đình cho thấy sự phối hợp giữa người dân và kiểm lâm đã có những bước tiến bộ. Chính sách giao đất giao rừng đã giúp người dân có ý thức hơn về trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, hiệu quả về mặt kinh tế vẫn là một bài toán khó. Thu nhập từ rừng còn bấp bênh, chưa đủ để thay thế hoàn toàn các hoạt động canh tác thiếu bền vững. Phân tích SWOT từ khóa luận gốc chỉ ra rằng, mặc dù có những điểm mạnh như sự chỉ đạo của các cấp và hệ thống giao thông thuận lợi, các điểm yếu về nhân lực, kinh phí và nhận thức vẫn là rào cản lớn đối với mục tiêu quản lý rừng bền vững.

5.1. Phân tích biến động diện tích rừng giai đoạn 2001 2016

Dựa trên việc giải đoán chỉ số thực vật NDVI từ ảnh Landsat, bản đồ hiện trạng rừng các năm 2001, 2013 và 2016 đã được thành lập. Kết quả cho thấy diện tích rừng tại xã Thanh Thủy có xu hướng tăng trong giai đoạn này. Đây là một tín hiệu tích cực, phản ánh hiệu quả của các dự án trồng rừng và chính sách bảo vệ. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn cho thấy sự gia tăng chủ yếu đến từ rừng trồng, trong khi chất lượng rừng tự nhiên chưa được cải thiện nhiều. Việc theo dõi biến động rừng bằng công nghệ viễn thám là một công cụ hữu ích, giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan và đưa ra quyết định kịp thời.

5.2. Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội và kinh tế

Về mặt xã hội, sự tham gia của người dân vào công tác bảo vệ rừng đã được cải thiện. Các hộ nhận khoán rừng có trách nhiệm hơn trong việc tuần tra, phòng chống cháy rừng. Tuy nhiên, về mặt kinh tế, lợi ích mà người dân nhận được còn hạn chế. Mức phí khoán bảo vệ thấp và nguồn lợi từ lâm sản ngoài gỗ chưa được khai thác hiệu quả khiến đời sống người dân chưa thực sự được cải thiện. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh trong chính sách để cân bằng tốt hơn giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao sinh kế người dân địa phương.

VI. Hướng đi tương lai cho quản lý rừng phòng hộ bền vững Thanh Thủy

Tương lai của quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững tại xã Thanh Thủy phụ thuộc vào việc triển khai đồng bộ và hiệu quả các giải pháp đã đề xuất. Trọng tâm cần đặt vào việc hài hòa ba trụ cột: môi trường - kinh tế - xã hội. Về môi trường, cần tiếp tục các nỗ lực phục hồi hệ sinh thái rừng, làm giàu rừng tự nhiên và nâng cao chất lượng rừng trồng để tối ưu hóa chức năng phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học. Về kinh tế, cần chuyển đổi mô hình sinh kế, giảm sự phụ thuộc trực tiếp vào khai thác tài nguyên thô. Thay vào đó, tập trung phát triển các chuỗi giá trị cho lâm sản ngoài gỗdu lịch sinh thái, đồng thời vận hành hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Về xã hội, việc nâng cao năng lực và trao quyền thực chất cho cộng đồng là con đường bền vững nhất. Cần xây dựng một cơ chế quản lý có sự tham gia, nơi tiếng nói của người dân được lắng nghe và lợi ích của họ được đảm bảo. Sự đầu tư liên tục vào khoa học công nghệ, đặc biệt là ứng dụng viễn thám trong giám sát tài nguyên, cùng với việc hoàn thiện chính sách lâm nghiệp sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của rừng phòng hộ Thanh Thủy trong dài hạn.

6.1. Tóm tắt các giải pháp quản lý rừng bền vững trọng tâm

Các giải pháp cốt lõi bao gồm: (1) Tăng cường vai trò của cộng đồng thông qua các tổ đội bảo vệ rừng và cơ chế chia sẻ lợi ích. (2) Đa dạng hóa sinh kế bằng cách phát triển kinh tế dưới tán rừng. (3) Hoàn thiện chính sách giao đất giao rừng và tối ưu hóa nguồn thu từ PFES. (4) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và thực thi pháp luật nghiêm minh. (5) Ứng dụng công nghệ để giám sát hiệu quả hơn tình trạng suy thoái rừng.

6.2. Kiến nghị chính sách và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét nâng mức đầu tư và kinh phí khoán bảo vệ rừng. Cần xây dựng các quy hoạch chi tiết cho việc phát triển du lịch sinh thái và các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ. Về mặt học thuật, các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc lượng hóa các giá trị dịch vụ hệ sinh thái mà rừng mang lại và đánh giá tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp cho công tác quản lý rừng bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên quý báu của quốc gia, là bộ phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái, có giá trị to lớn về kinh tế - xã hội. Do vậy tài nguyên rừng cần đƣợc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững và đây là xu thế phát triển lâm nghiệp của thế giới hiện nay.Đối với tài nguyên rừng hiện nay, vấn đề quản lý tài nguyên rừng là một vấn đề cấp thiết. Do các hoạt động phá rừng, đốt nƣơng làm rẫy, quản lý rừng không chặt chẽ … dẫn đến mất đi một diện tích rừng đáng kể. Từ đó dẫn đến thay đổi cấu trúc rừng vốn có.

Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nƣớc, đây cũng là nơi sinh sống thuộc nhiều dân tộc ít ngƣời, có trình độ dân trí thấp, phƣơng thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên diện tích rừng có tăng nhƣng chất lƣợng rừng tự nhiên cũng nhƣ rừng trồng còn thấp, chƣa đáp ứng yêu cầu sản xuất và phòng hộ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng từ trƣớc tới nay còn nhiều bất cập, các chƣơng trình trong từng thời kỳ còn mang tính phong trào. Việc quy hoạch, thiết lập kế hoạch, xác định các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng, thƣờng dựa trên hiện trạng sử dụng và chức năng của tài nguyên rừng.

Việc đi sâu vào phân tích về quản lý tài nguyên rừng bền vững nhằm phát huy tác dụng nhiều mặt của rừng đối với con ngƣời và xã hội một cách lâu dài liên tục. Nhằm hội nhập với các công ƣớc quốc tế, đánh giá cơ chế chính sách trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Không phân tích các biện pháp sử dụng tài nguyên rừng trong các hệ thống canh tác Lâm Nông nghiệp. Vì vậy, việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng không những chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao mà còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trƣờng.

Chính vì vậy, việc lƣa chọn đề tài nghiên cứu “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn bền vững tại Xã Thanh Thủy, Huyên Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An” đƣợc đặt ra. 1 PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về quản lý rừng bền vững, rừng phòng hộ đầu nguồn Theo định nghĩa của Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) thì “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần (khu rừng) ổn định nhằm đạt đƣợc một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đã đƣợc đề ra một cách rõ ràng nhƣ đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất của rừng trong tƣơng lai và không gây ra những tác động xấu đối với môi trƣờng tự nhiên và xã hội” [1] Còn Tiến trình Helsinki của EU có định nghĩa nhƣ sau: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và cƣờng độ phù hợp để duy trì đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh và sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện tại và trong tƣơng lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phƣơng, quốc gia, và toàn cầu, và không gây ra những tác động xấu đối với các hệ sinh thái khác”[2] Rừng phòng hộ đầu nguồn: Nhằm điều tiết nguồn nƣớc cho các dòng chảy, các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ. Chủ yếu là những nơi đồi núi có độ dốc cao, yêu cầu đối với rừng phòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung có cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng, có độ che phủ của tán rừng là 0,6 trở lên.

Tổng quan chung về đất lâm nghiệp Việt Nam có tổng diện tích rừng hiện có 14. Trong đó rừng tự nhiên 10.519 ha,thuộc quy hoạch 3 loại rừng: rừng phòng hộ 3.979 ha, rừng đặc dụng 2.872 ha, rừng sản xuất 3. Ngoài quy hoạch 3 loại rừng 368. Diện tích rừng để tính độ che phủ của toàn quốc là 13.984 ha với độ che phủ là 40.

Nhƣ vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân.1 Thời kỳ trước năm 1945 Trong thời kỳ này tài nguyên rừng còn phong phú, nhu cầu của con ngƣời còn thấp, rừng bị khai thác lợi dụng tự do, không có sự can thiệp của cộng đồng. Vấn đề quản lý bền vững chƣa đƣợc đặt ra, nhƣng mức độ tác động của con ngƣời vào tài nguyên rừng còn ít nên tài nguyên rừng còn phong phú và đa dạng. Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng khu vực Đông Dƣơng, diện tích rừng nƣớc ta vào năm 1943 còn khoảng 14.3% triệu ha rừng. tƣơng đƣơng độ che phủ khoảng 43.

Thời kỳ từ năm 1946-1990 Trong thời kỳ này hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác biệt nhau. Ngay sau hòa bình lập lại toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc đƣợc quy hoạch vào các lâm trƣờng quốc doanh. Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra nhƣng chƣa đƣợc các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức. Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác ngày càng diễn ra nghiêm trọng hơn.

Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng nhƣ trên, đã làm cho tài nguyên rừng nƣớc ta bị tàn phá một cách nặng nề. Diện tích rừng đã bị thu hẹp lại từ 14.3 triệu ha xuống còn khoảng 10 triệu ha năm 1985. Giai đoạn từ 1945-1960 công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hƣớng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nƣơng rất ổn định công tác định canh định cƣ, khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Giai đoạn 1961-1975 quản lý bảo vệ rừng đƣợc đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn chặt với công tác định canh định cƣ.

Công tác khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo quy định quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên. Về tổ chức sử dụng rừng: rừng đƣợc chia thành 3 chức năng để quản lý sử dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Ở mỗi tỉnh rừng và đất 3 rừng đƣợc chia thành các tiểu khu có diện tích trung bình là 1000 ha và đánh số từ 1 đến số cuối cùng trong phạm vi của tỉnh. Nhìn chung, công tác quản lý bảo vệ rừng đƣợc thống nhất quản lý từ trung ƣơng đến địa phƣơng.

Sau ngày thống nhất đất nƣớc 1975, công tác quản lý bảo vệ rừng đƣợc tổ chức thông qua lực lƣợng kiểm lâm trên toàn quốc và đƣợc kiện toàn đến các lâm trƣờng quốc doanh, các Liên hiệp Lâm- Nông- Công nghiệp, đồng thời quản lý đến từng tiểu khu rừng. Giai đoạn này Nhà nƣớc thống nhất quản lý toàn bộ tài nguyên rừng thông qua các lâm trƣờng quốc doanh, ngƣời dân và cộng đồng đã bị tách rời khỏi các hoạt động quản lý sử dụng tài nguyên rừng của Nhà nƣớc. Đây là nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng nhanh chóng. Thời kỳ từ năm 1991 đến nay Nét đặc trung cơ bản trong thời kỳ này là sự chuyển đổi cơ chế từ nền Lâm nghiệp nhà nƣớc sang Lâm nghiệp xã hội, gắn với định hƣớng phát triển của nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống và tính chất quản lý ngành cũng đã có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên rừng tổng hợp, đa ngành, đa mục tiêu. Trong sự thay đổi đó có tính cách mạng về tính chất quản lý, hang loạt chủ trƣơng, chính sách mới đƣợc ban hành, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành Lâm Nghiệp đó là Cục phát triển lâm nghiệp và Cục Kiểm Lâm. Tại các tỉnh thì có Chi cục phát triển Lâm nghiệp trực thuộc Sở NN& PTNN, ở cấp huyện thì Hạt kiểm lâm, cấp xã không có tổ chức quản lý nhà nƣớc về lâm nghiệp. Công tác tổ chức sử dụng tài nguyên rừng: Do yêu cầu về chức năng phòng hộ của rừng ngày càng trở nên quan trọng, để đảm bảo môi trƣờng bền vững, phát triển kinh tế xã hội nên các hoạt động Lâm Nghiệp đặc biệt quan tâm đến 2 loại rừng đặc dụng và phòng hộ.

Tháng 11/1997 Quốc hội nƣớc Việt Nam đã thông qua dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010. Hiện nay đã có hệ thống luật pháp và những chính sách quan trọng để phát triển rừng và quản lý bền vững rừng, đó là: 4 + Quyết định số 08, năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng. + Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1992. + Luật đất đai năm 1993 và sửa đổi bổ sung luật đất đai năm 1998 và 2000.

+ Nghị định 02/CP năm 1994 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. + Nghị định 01/CP, năm 1995 của Chính phủ về việc giao khoán đất sử dụng sử dụng vào mục đích sản xuất Nông Lâm Ngƣ nghiệp trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc. + Quyết định 264, năm 1992 của Chính phủ về tín dụng vay vốn ƣu đãi để trồng rừng sản xuất. + Quyết định 245/1998/QĐ-TTg, ngày 21/12/1998 của Thủ tƣớng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nƣớc của các cấp về rừng và đất rừng.

+ Nghị định 163/1999/NĐ, ngày 16/11/1999 của Thủ tƣớng Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Việc ban hành luật bảo vệ và phát triển rừng đã đánh dấu sự phát triển về chiều sâu và chất lƣợng của sự nghiệp quản lý bảo vệ rừng. Những văn bản pháp quy, nghị định, chỉ thị của Thủ tƣớng Chính phủ, của Cục Lâm nghiệp ban hành đã góp phần thể chế hóa luật pháp của Nhà nƣớc. Công tác giao đất khoán rừng đƣợc gắn với công tác định canh định cƣ, ngƣời dân vùng núi đã biết sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của mình, góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho nhân dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ