Chương 1 TONG QUAN 1. Đất đai và quản lý nhà nước về dat đai, quyền sử dung đất va thu hồi đất 1. Dat dai Dat dai là khoảng không gian có giới han, theo chiều thang đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyền, lớp phủ thé nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người (Đặng Thái Sơn, 2000). Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển — xã hội, khoa học — công nghệ theo quy định sau: (Đặng Hùng Võ, 2009) - Đối với đất đang sử dụng thì đánh giá sự phù hợp và không gian phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến lược, quy hoạch tong thé, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học — công nghệ trong sử dụng đất.
- Đối với đất chưa sử dụng thì đánh giá khả năng đưa vào sử dụng cho các mục đích. Quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ồn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tang lớp cầm quyên theo đuổi. Đất đai theo Hiến pháp năm 2013 “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chu sở hữu và thông nhat quan lý nhà nước vê dat đai”. Nhà nước thực hiện quản lý đất đai bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai.
Hoạt động trên thực tế của các cơ quan Nhà nước trong quản lý đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 15 nội dung được quy định trong Luật đất đai 2013. Trong đó liên quan nhiều đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, có hai nội dung quan trọng sau: - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất: đây là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng dé thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dan bị thu hồi dat. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: đây là công tác quan trọng đối với việc xác minh nguồn gốc pháp lý để thực hiện việc bồi thường khi thu hồi đất, như xác minh được về ranh giới, diện tích, đối tượng sử dụng.từ đó sẽ có cơ sở đề áp giá đền bù, vì vậy sẽ giúp cho việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư chính xác hơn, nhanh hơn. Quyền sử dụng đất Luật Đất đai năm 2013, quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Do không thé có cơ chế dé toàn dân thực hiện tất cả các quyền chủ sở hữu mà quyền năng chủ sở hữu đối với đất đai được thực hiện thông qua vai trò của Nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu, quyền sử dụng đất thông qua việc ban hành chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.Do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nên người sử dụng đất chỉ có quyền chuyền giao quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho trên cơ sở pháp luật. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Quyền của người sử dụng đất được pháp luật về đất đai hoàn thiện qua các giai đoạn, đến khi Luật đất đai năm 2013 ra đời, người sử dụng đất có các quyền chung bao gồm: Được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bô đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyên, lợi ích hợp pháp về dat đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất (Đặng Thái Sơn, 2002).
Bên cạnh những quyền thì đối tượng sử dụng đất sẽ có nghĩa vụ riêng nhưng về cơ bản người sử dụng đất có các nghĩa vụ chung sau: sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan; kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyên đồi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyên sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tôn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan; tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng dat mà không được co quan Nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng (Lưu Minh Thanh, 2012). Thu hồi đất và những trường hợp nhà nước thu hồi đất 1. Thu hồi đất Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Theo khoản 11 Điều 3 Luật Dat dai năm 2013 “ Nhà nước thu hồi dat là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Hiến pháp năm 2013). Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tải sản khác gắn liền với đất,.Đề phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất và người sử dụng đất phải chấp nhận. Vì vậy thu hồi đất là một nội dung quan trọng của chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Những trường hợp nhà nước thu hồi đất Người sử dụng đất được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất, được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm quyền và lợi ich hợp pháp.
Nhà nước quyết định thu hồi dat trong các trường hợp sau đây: Thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai; Thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Các khái niệm Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực chất là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người được giao đất, thuê đất và người bị thu hồi đất. Bồi thường thiệt hại về đất, về chi phí đầu tư vào đất, về tài sản, công trình gắn liền với đất và các chỉ phí có liên quan phải được thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá và về phương thức thu hồi, hạch toán.
Việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất không giống với việc trao đổi, mua bán tài sản, hàng hóa trên thị trường. Nó vừa phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của người có đất bị thu hồi, có nghĩa là phải giải quyết một cách hài hòa giữa các đối tượng tham gia (Nguyễn Vinh Diện, 2006). Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hdi dé ôn định đời sống, sản xuất và phát triển (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2014). Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mat mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thường chưa thực sự sòng phẳng nên các khoản hỗ trợ chưa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó được định nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trường hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bôi thường thiếu song phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thường như là hỗ trợ di chuyên, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra. Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Hiến pháp năm 1992 quy định quyền có chỗ ở là một trong những quyền cơ bản của công dân. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện việc tái định cư cho họ. Như vậy, nếu việc bồi thường thiên về mức độ tương xứng thì tái định cư thiên về chính sách tạo lập chỗ ở.