Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về gãy xương chi dưới (GXCD) 1. Định nghĩa Gãy xương chi dưới là sự mất liên tục của một hoặc nhiều xương thuộc chi dưới, là sự phá hủy các cấu trúc bên trong của xương do lực chấn thương hoặc bệnh lý dẫn đến gián đoạn truyền lực qua xương [9],[10]. Nguyên nhân Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến gãy xương chi dưới [9],[10]: - Chấn thương: + Trực tiếp: Do một tác nhân đập trực tiếp vào nơi gãy, hay gặp trong các trường hợp tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt và các vết thương do bom đạn.
+ Gián tiếp: Do hiện tượng đè ép của cơ thể và sức chống đỡ của chi gãy xa nơi chịu tác động của chấn thương. - Nguyên nhân bệnh lý: Gặp trong những trường hợp viêm xương mạn tính, u xương, lao xương, loãng xương…. Gãy xương kín - Định nghĩa: Gãy xương kín là ổ gãy xương không thông với bên ngoài. - Phân loại dựa vào mức độ tổn thương phần mềm, đã phân gãy xương kín làm 4 độ, trong đó độ II và độ III là tổn thương phần mềm nặng [10]: Độ 0: Gãy xương không có tổn thương mô mềm hoặc tổn thương nhẹ không đáng kể, gãy xương không di lệch hoặc ít di lệch.
Độ I: Gãy xương có xây xát da nông hoặc do đoạn gãy gây chạm vết thương phần mềm, xương gãy đơn giản hoặc trung bình. Độ II: Đụng dập da sâu và cơ khu trú do chấn thương trực tiếp gây ra. Có thể đe dọa hội chứng chèn ép khoang, gãy xương phức tạp. 5 Độ III: Đụng dập da hoặc xây xát da lan rộng, lóc da kín, dập nát cơ, có hội chứng khoang hoặc tổn thương các mạch máu chính.
Thường do chấn thương trực tiếp hoặc vật nặng đè lên. Xử trí tổn thương phần mềm khó khăn như gãy hở độ III. Gãy xương hở - Định nghĩa: Gãy xương hở là ổ gãy xương thông với bên ngoài qua vết thương. - Phân loại: Gãy xương hở được chia ra làm 3 mức độ, riêng mức độ 3 là có tổn thương phần mềm nặng và được chia thành 3 nhóm nhỏ đó là: IIIA, IIIB, IIIC như sau [10]: Độ I: Vết thương dài < 1cm, sạch, hầu hết do gãy hở từ đầu xương gãy chọc từ trong ra.
Tổn thương phần mềm ít, không có bầm dập, đường gãy xương là đường ngang đơn giản hoặc chéo ngắn, gãy vững. Nguy cơ nhiễm khuẩn thấp. Độ II: Vết thương rách da từ 1-10 cm, tương đối sạch, tổn thương phần mềm trung bình, có bầm dập, có thể là lóc da còn cuống. Gãy xương có đường ngang đơn giản hoặc chéo ngắn với mảnh nhỏ.
Độ III: Tổn thương phần mềm nặng dập nát cả khối cơ lớn, lóc da rộng thường do lực chấn thương rất mạnh (vật nặng đè lên, hỏa khí, lái xe tốc độ cao…), gãy xương làm nhiều mảnh, gãy vụn. Nguy cơ nhiễm khuẩn cao. Loại này gồm 3 nhóm: IIIA: Tổn thương gồm dập cơ, lóc da rộng, bầm dập nhưng vẫn còn đủ phần mềm để che phủ xương, khớp sau khi cắt lọc. IIIB: Tổn thương dập cơ, lóc da rộng, bầm dập mất tổ chức không đủ phần mềm để che phủ xương, khớp sau khi cắt lọc.
IIIC: Tổn thương dập nát phần mềm nhiều, gãy xương phức tạp và có tổn thương mạch máu, thần kinh. Các phương pháp điều trị gãy xương chi dưới. Sau khi bị gãy xương, người bệnh cần phải được điều trị. Xử lý ổ gãy xương có thể bao gồm một hoặc nhiều phương pháp sau đây: Kéo liên tục, bó bột và phẫu thuật [5],[10].
Kéo liên tục Kéo liên tục là phương pháp dựa trên trọng lực (của 1 tạ kéo) làm giãn cơ để nắn lại xương, để bất động tạm thời trước khi bó bột hay phẫu thuật kết hợp xương. Kéo liên tục còn có thể được chỉ định cho những trường hợp không có chỉ định phẫu thuật (bệnh về máu, không đủ điều kiện sức khỏe…). Có 2 lực ngược chiều nhau tham gia lực kéo là trọng lượng quả cân và trọng lượng người bệnh. Có một số kiểu kéo liên tục bao gồm: Kéo qua da, kéo qua xương.
Cố định xương gãy bằng bột Một khuôn đúc được áp dụng để cố định xương bị gãy và được áp dụng phổ biến cho gãy xương ở trẻ em. Các khuôn đúc sẽ bất động phía trên ổ gãy và phía dưới ổ gãy để xương không di động trong quá trình điều trị. Loại khuôn đúc phụ thuộc vào vị trí và loại gãy xương. Khuôn đúc thường được làm bằng vật liệu thạch cao hoặc nhựa, sợi thủy tinh.
Khi sử dụng bột thạch cao nếu bị ướt sẽ có thể làm cho khuôn đúc thay đổi hình dạng. Bột làm từ nhựa, sợi thủy tinh được sử dụng phổ biến hơn do có ưu điểm là đông cứng nhanh, không bị thấm nước, bền hơn, nhẹ hơn và cho phép tia X quang xuyên qua [5],[10]. Phẫu thuật Phẫu thuật được chỉ định cho những người bệnh gãy xương khó kéo nắn, gãy xương kèm theo đứt dây chằng, gãy phức tạp và gãy nhiều vị trí, gãy ở đầu xương, gãy di lệch lớn, gãy xương có tổn thương mạch máu hoặc gãy xương hở. Có hai loại phẫu thuật kết hợp xương bao gồm cố định xương bên ngoài và cố định xương bên trong [10].
*Cố định xương bên ngoài Cố định ngoài là phương tiện cố định xương gãy bằng thanh kim loại đặt bên ngoài chi gãy (bao gồm các loại mẫu khung FESSA, Orthofix, Hoffmann, Ilizarow) gắn liền với những cái đinh đã được xuyên vào các thành xương. Người bệnh được theo dõi thường xuyên để đề phòng nhiễm trùng và các biến chứng thần kinh chi phối chi gãy [9],[10]. 7 *Cố định xương bên trong Phẫu thuật cố định xương bên trong được sử dụng nhiều hơn. Có hai loại phương pháp kết hợp xương chính gồm: Đóng đinh nội tủy và nẹp vít để cố định hai đầu xương gãy.
Nẹp vít AO, nẹp vít khóa có tác dụng cố định ổ gãy xương chắc nhưng dễ gây tổn thương màng xương. Đóng đinh nội tủy kín dưới màn huỳnh quang tăng sáng có ưu điểm là ít gây tổn thương các yếu tố nuôi dưỡng xương, nhanh liền xương và nguy cơ nhiễm khuẩn thấp [9],[10]. Những tác động sau phẫu thuật gãy xương chi dưới. Tác động tích cực Ổ xương gãy sau phẫu thuật được nắn chỉnh di lệch gần như toàn diện theo ý muốn và cố định vững chắc; thời gian nằm viện ngắn hơn; người bệnh được vận động sớm nên tránh được những biến chứng do nằm lâu; tâm lí thoải mái khi xuất viện [10].
Tác động tiêu cực Nguy cơ nhiễm trùng cao; nguy cơ chảy máu; mất máu nhiều, nhiễm trùng, sưng nề sau phẫu thuật, cơ bị cắt đứt sau phẫu thuật, mạch máu, thần kinh bị tổn thương trong phẫu thuật cũng gây rối loạn quá trình liền xương; đặt vật lạ vào xương gây ra tình trạng phản ứng tại chỗ của mô xương cũng gây viêm xương dị ứng và có nguy cơ viêm xương sau phẫu thuật; tốn kém và đòi hỏi phải có kĩ thuật chuyên khoa, trang thiết bị và trình độ chuyên môn cao [10]. Tai biến Sau khi phẫu thuật chỉnh hình xương chi dưới, người bệnh thường đối mặt với những tai biến sau [10]: Đối với mô: Co rút cơ do cắt nhiều mô cơ, nhiễm trùng phần mềm, vết mổ. Đối với xương: Do các dụng cụ kim loại đặt vào trong trường hợp phẫu thuật kết hợp xương đưa đến viêm xương, xương khó lành. Đối với mạch máu: Chảy máu, mất máu, tụ máu dễ đưa đến chèn ép.
Đối với thần kinh: Có thể tổn thương theo các mức độ khác nhau. Đối với toàn thân: Nhiễm trùng máu, viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, choáng, 8 thiếu máu, suy dinh dưỡng… Những biến chứng sau phẫu thuật chỉnh hình phổ biến xảy ra trong thời gian nằm viện bao gồm: Chảy máu do tổn thương mạch máu, hội chứng khoang, huyết khối tĩnh mạch sâu, thiếu máu [27]. Ngoài ra,các phẫu thuật chỉnh hình xương chi dưới tiềm ẩn nhiều triệu chứng khiến người bệnh cảm thấy khó chịu như: Đau, mệt mỏi, lo âu, chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau đầu vàrối loạn giấc ngủ [29],[44]. Phục hồi chức năng sau phẫu thuật Khi tình trạng gãy xương của người bệnh đã ổn định, kết hợp xương đã đủ vững chắc và bắt đầu quá trình liền xương, thì việc phục hồi chức năng để lặp lại hoạt động bình thường được quan tâm.
Vận động sớm thường được khuyến khích: trong giới hạn ổn định của người bệnh. Vận động sớm tránh được tình trạng cứng khớp, mất sức mạnh cơ và phù nề chi. Phục hồi chức năng được áp dụng riêng theo tình trạng tổn thương và tình trạng hiện tại của người bệnh [40]. Phục hồi chức năng nên được bắt đầu trong: một vài ngày sau phẫu thuật và khi đủ điều kiện cho phép.
Phạm vi của bài tập vận động có thể là thụ động hoặc chủ động. Vận động thụ động được thực hiện bởi: nhà trị liệu hoặc thiết bị hỗ trợ. Vận động thụ động để: thiết lập lại khả năng vận động khớp bình thường [28]. Chương trình phục hồi chức năng của người bệnh được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn đầu là từ ngày đầu tiên sau phẫu thuật đến tuần 4 sau phẫu thuật; giai đoạn hai là thời gian hậu phẫu từ tuần 4 đến tuần 8 và giai đoạn cuối là sau phẫu thuật tuần 16 đến tháng thứ 8.
Mục đích của chương trình phục hồi chức năng cho người bệnh gãy xương chi dưới tập trung vào việc mang trọng lượng ngay lập tức và tiến bộ tập luyện dáng đi, phạm vi chuyển động, sức mạnh, cân bằng, và trở lại chức năng. Các bài tập trong giai đoạn I tập trung vào vận động khớp háng và khớp gối, không trọng lượng - tăng cường sức chịu đựng và sự tiến triển của mang trọng lượng trong dáng đi. Điều trị nội trú vật lý trị liệu hai lần mỗi ngày và bao gồm phạm vi chuyển động nhẹ nhàng các hoạt động, tiếp đó là tăng dần trọng lượng lên 9 chi phẫu thuật với nạng và dụng cụ hỗ trợ. Hoạt động các bài tập chuyển động tầm và chuyển động thụ động của háng, đầu gối và mắt cá chân được bắt đầu ngay sau phẫu thuật.
Trọng tâm ban đầu chính là mở rộng đầu gối. Mở rộng đầu gối đầy đủ được tập luyện tích cực ngay sau phẫu thuật để giảm nguy cơ co rút khớp gối. Người bệnh tập vận động thụ động và được hỗ trợ bài tập gấp đầu gối ở tư thế: ngồi trên ghế hoặc trên giường. Người bệnh thực hiện kéo dài chi dưới, bao gồm cả ngồi duỗi cơ gân khoeo và căng cơ.
Thông thường, người bệnh sử dụng nạng hai bên ngay sau phẫu thuật [46].