LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau hơn 30 năm kể từ khi thực hiện đổi mới và mở cửa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và phát triển con người. Thông qua các chính sách quan tâm đến phúc lợi của người nghèo, tái phân bổ những thành quả của tăng trưởng kinh tế cho người nghèo và hỗ trợ thoát nghèo thông qua các chính sách về thị trường lao động và an sinh xã hội, Việt Nam được quốc tế công nhận khi thực hiện thành công các mục tiêu thiên niên kỉ, đặc biệt là mục tiêu về xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một tốc độ tăng trưởng cao là chưa đủ để đảm bảo cho sự thành công lâu dài và bền vững của quá trình giảm nghèo trong khi bất bình đẳng có xu hướng gia tăng trong nhiều chiều kích.
Không thể phủ nhận, quá trình tăng trưởng kinh tế ấn tượng đã mang lại lợi ích cho người dân nhưng dường như nó đang mang lại nhiều lợi ích hơn cho nhóm có thu nhập cao. Tình trạng nghèo đói giảm đi nhưngkhoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng, đồng nghĩa với sự phân phối thành quả tăng trưởng là không đồng đều. Tại Việt Nam, thu nhập trong một năm của 210 người siêu giàu dư sức để đưa 3,2 triệu người thoát nghèo, chấm dứt nghèo cùng cực (Oxfam, 2017). Các dịch vụ công như chăm sóc sức khỏe toàn dân, phổ cập giáo dục và an sinh xã hội, mặc dù đã được Nhà nước chú trọng đầu tư nhưng chưa thể bao phủ toàn bộ dân số, đặc biệt là đối với người dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Việc tư nhân hóa các dịch vụ y tế và chi phí mà bệnh nhân phải tự thanh toán (tiền thuốc và các dịch vụ y tế khác) đã và đang tạo ra những gánh nặng to lớn cho người nghèo. Các khoản chi tiêu liên quan đến y tế và chăm sóc sức khỏe đã đẩy 583,724 gia đình Việt Nam vào tình trạng nghèo đói nghiêm trọng hơn (Oxfam, 2017). Trong lĩnh vực giáo dục, mặc dù Việt Nam đã rất thành công trong việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, song ở cấp học cao hơncó sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm dân cư trong cơ hội tiếp cận giáo dục. Đối với bậc trung học cơ sở (THCS), nếu như tỷ lệ nhập học của hai nhóm thu nhập cao nhất đạt tỷ lệ gần 2 100% thì con số này ở nhóm thu nhập thấp nhất chỉ đạt 60%.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra với bậc học trung học phổ thông(THPT), khi tỷ lệ nhập học của nhóm nghèo và cận nghèo chỉ đạt tương ứng 50% và 40% (UNDP và VASS, 2016). Các cấp học cao hơn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ, kĩ năng cho người học, giúp họ tăng khả năng nắm bắt các cơ hội kinh tế và dịch chuyển xã hội. Mô hình tăng trưởng truyền thống đã dần bộc lộ nhiều hạn chế khi tình trạng nghèo đói (đặc biệt là nghèo đói đa chiều) không phải luôn luôn được cải thiện và bất bình đẳng đang gia tăng, bất chấp nền kinh tế vẫn có tăng trưởng. Bất bình đẳng khi vượt qua giới hạn nhất định sẽ là nguy cơ tiềm ẩn gây ra những bất ổn xã hội và gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Văn Công, 2019).
Ngoài ra, với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thực hiện giảm nghèo thông qua cơ chế tái phân bổ thu nhập sẽ là một gánh nặng lớn đối với ngân sách. Do đó, cần phải xây dựng một mô hình tăng trưởng màtất cả mọi người, đặc biệt là nhóm người yếu thế và dễ bị tổn thương đều được hưởng lợi từ quá trình tăng trưởng kinh tế. Ở đó, sẽ không ai bị bỏ lại phía sau, tất cả mọi người đều có cơ hội đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thụ hưởng thành quả, đều được tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu và nguồn lực sản xuất, góp phần tạo nên một nền kinh tế nhân văn và công bằng, mang lại giá trị tốt đẹp cho tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt vùng miền, giới tính, hoàn cảnh xuất thân, công việc hay tôn giáo.Mô hình tăng trưởng bao trùm được kì vọng sẽ giải quyết được vấn đề này.Không chỉ Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng xác định tăng trưởng bao trùm là chiến lược để đạt được sự thịnh vượng và công bằng trong dài hạn một cách bền vững. Giáo dục là một trong các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu giúp đảm bảo và nâng cao năng lực con người để tiếp cận việc làm chất lượng cao, nâng cao năng suất, thúc đẩy dịch chuyển xã hội, tạo điều kiện để tất cả các cá nhân tham gia vào nền kinh tế và cùng chia sẻ thành quả tăng trưởng.
Giáo dục vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của quá trình tăng trưởng. Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu về "Đánh giá tăng trưởng bao trùm trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam", với mong muốn đóng góp thêm các bằng chứng thực nghiệm về tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Luận văn đặt ra các mục tiêu nghiên cứu như sau: - Làm rõ những vấn đề cơ bản về tiếp cận giáo dục và tăng trưởng bao trùm; - Đo lường và phân tích tăng trưởng bao trùm trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2012-2018; - Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tính bao trùm trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2012-2018; - Đề xuất một sốkhuyến nghị chính sách nhằm mở rộng tính bao trùm về tiếp cận giáo dục tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu: - Tính bao trùm về tiếp cận giáo dục ở Việt Nam như thế nào? - Những nhân tố nào tác động đến tínhbao trùm về tiếp cận giáo dục ở Việt Nam? - Chính sách nào có thể giúp cải thiện tính bao trùm về tiếp cận giáo dục tại Việt Nam? 3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tăng trưởng bao trùm trong tiếp cận giáo dục. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng tiêu chí tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) để đánh giá việc tiếp cận giáo dục của một cá nhân trong độ tuổi 18-25.Nghĩa là, cá nhân tại thời điểm xem xét đã có bằng tốt nghiệp THPT thì được coi là có tiếp cận giáo dục; ngược lại, nếu chưa có bằng tốt nghiệp THPT thì được coi là không tiếp cận giáo dục. Luận văn lựa chọn tiêu chí tốt nghiệp THPT thay vì tiêu chí số năm đi học vì THPT có thể coi là mức trình độ cơ bản để giúp các cá nhân có thể mở rộng cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập.
Đây là mục đích quan trọng nhất của tiếp cận giáo dục. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: các tỉnh/thành phố của Việt Nam. 4 - Phạm vi thời gian: giai đoạn nghiên cứu là 2012 - 2018, do giai đoạn này có bối cảnh vĩ mô tương đối ổn định và tương đồng, khác với giai đoạn trước đó có sự bất ổn vĩ mô do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính 2008. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp hàm cơ hội xã hội để tính toán chỉ số cơ hội (chỉ số đánh giá tính bao trùm đối với các chỉ tiêu phi tiền tệ, mà ở đây là tiếp cận giáo dục); - Phương pháp hàm dịch chuyển xã hội để tính toán chỉ số bao trùm theo thu nhập (đây là một biến độc lập trong mô hình); - Phương pháp hồi quy dữ liệu mảng để xác định các nhân tố tác động đến tính bao trùm về tiếp cận giáo dục của các tỉnh/thành phố ở Việt Nam; - Thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp từ cuộc Điều tra mức sống dân cư (VHLSS) do Tổng cục Thống kê (TCTK) tiến hành hai năm một lần.
Bên cạnh đó, một số dữ liệu được lấy từ Niên giám thống kê (NGTK) của TCTK và Cục Thống kê của 63 tỉnh/thành phố, báo cáo của các tổ chức như phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Năng suất Việt Nam (VNPI). Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng Excel và Stata. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bao gồmbachương như sau: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tiếp cận giáo dục và tăng trưởng bao trùm Chương 2: Đánh giá tăng trưởng bao trùm trong tiếp cận giáo dụcở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018 Chương 3: Khuyến nghị chính sách 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIẾP CẬN GIÁO DỤC VÀTĂNG TRƢỞNG BAO TRÙM 1. Những vấn đề cơ bản về tiếp cận giáo dục 1.
Khái niệm tiếp cận giáo dục Giáo dục được coi là một quyền cơ bản của con người và là chìa khóa để thúc đẩy dịch chuyển xã hội, thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Trong thập kỉ qua, nhiều nỗ lực đã được thực hiện trên toàn thế giới để mở rộng tiếp cận giáo dục và tăng tỉ lệ nhập học ở tất cả các cấp học, đặc biệt là đối với nữ giới. Trong giáo dục, thuật ngữ "tiếp cận" đề cập đến việc các tổ chức và chính sách giáo dục đảm bảo hoặc ít nhất là cố gắng đảm bảo chongười học có cơ hội công bằng và bình đẳng để khai thác tối đa những lợi ích từ giáo dục. Mở rộng tiếp cận giáo dục nhìn chung mang hàm ý rằng cần phải hỗ trợ hoặc loại bỏ đi các rào cản trong thực tế (hoặc có khả năng trở thành rào cản) cản trở một số đối tượng người học nào đó khỏi cơ hội tham gia giáo dục một cách công bằng.
Các yếu tố như vị trí địa lý, thu nhập của cha mẹ, thành tích học tập trong quá khứ, giới tính, sức khỏe, v.v có thể khiến một số đối tượng học sinh ít có khả năng tiếp cận giáo dục hơn các học sinh khác (The Glossary of Education Reform). Lewin (2015) đã phát triển khái niệm tiếp cận giáo dục theo nghĩa rộng, theo đó tiếp cận giáo dụcbao gồm việc nhập học theo đúng lộ trình của các độ tuổi nhất định, tham gia học tập thường xuyên tại trường học, được học tập trong một môi trường đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia (giáo viên phải qua đào tạo, lớp học có đủ ánh sáng, nhiệt độ phù hợp, đảm bảo thông khí, phương tiện giảng dạy đầy đủ, v.