ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 2017, trên toàn cầu, ước tính có khoảng 462 triệu người bị ảnh hưởng bởi Đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, tương ứng với 6,28% dân số thế giới. Hơn 1 triệu trường hợp tử vong được cho là do bệnh này chỉ trong năm 2017, là nguyên nhân tử vong thứ 9. Việt Nam đã tăng hạng trong hai thập kỷ qua. Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 5,76 triệu người mắc đái tháo đường [60].
Ở bệnh nhân Đái tháo đường, tình trạng tăng glucose máu kéo dài dẫn đến những rối loạn chuyển hóa, để lại những hậu quả xấu đối với hệ tim mạch gây nên nhiều các biến chứng mạn. Do vậy, các thuốc điều trị nhằm kiểm soát glucose máu, có thể giảm được nguy cơ tiến triển của các biến chứng, hạn chế tác dụng phụ của thuốc ngày càng trở nên cấp thiết và là vấn đề quan tâm hàng đầu. Theo Y học cổ truyền Đái tháo đường có nhiều điểm tương đồng với chứng Tiêu khát , và có nhiều vị thuốc, bài thuốc có hiệu quả trong điều trị chứng này trong thực nghiệm và cả trên lâm sàng [1],[6],[12]. Hiện nay, nhiều nhà khoa học ở Việt Nam, thế giới đang có xu hướng tìm kiếm và phát triển các thuốc nguồn gốc tự nhiên vừa có hiệu quả tốt, vừa ít tác dụng phụ, có thể dùng trong thời gian lâu dài [17].
Cao Bằng là nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi cho nhiều dược liệu quý sinh trưởng và phát triển, trong đó có me rừng, thạch hộc tía, giảo cổ lam được đánh giá là có chất lượng tốt, hàm lượng hoạt chất cao. Đây cũng là những vị thuốc quý đã được dân gian sử dụng, cũng như một số nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao về tác dụng hạ Glucose máu, điều chỉnh rối loạn mỡ máu,. Tuy nhiên, hiện nay chưa có các nghiên cứu về kết hợp những vị thuốc trên. Viên nang Gydenphy là sản phẩm của đề tài cấp tỉnh Cao Bằng, bào chế từ quả me rừng, giảo cổ lam và thạch hộc tía thu hái ở tỉnh này.
Sản phẩm được bào chế tại Học viện Quân y, có quy trình bào chế và tiêu chuẩn cơ sở được đánh giá, thẩm định. Với các thành phần dược liệu có hàm lượng hoạt chất tốt, định hướng tác dụng trong dự phòng và điều trị tăng glucose máu cùng một số tác dụng quý khác. Sự phối kết hợp các dược liệu với những thành phần hoạt chất khác nhau, cơ chế tác dụng lên hạ glucose máu khác nhau, hỗ trợ cho nhau tạo tác dụng hiệp đồng, giúp sản phẩm 2 đạt hiệu quả cao trong hạ glucose máu. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá tác dụng hạ Glucose máu của viên nang Gydenphy trên động vật thực nghiệm” với các mục tiêu : 1.
Đánh giá tác dụng hạ Glucose máu của viên nang Gydenphy trên chuột nhắt gây Đái tháo đường type 1. Đánh giá tác dụng hạ Glucose máu của viên nang Gydenphy trên chuột cống gây Đái tháo đường type 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về Đái tháo đường theo Y học hiện đại 1.
Định nghĩa Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [10],[15],[21],[22],[29]. Thế giới Gánh nặng bệnh tật liên quan đến ĐTĐ đang gia tăng và ở mức cao ở mọi quốc gia, bởi sự gia tăng tỷ lệ béo phì và lối sống không lành mạnh [61]. Theo Liên đoàn ĐTĐ Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị ĐTĐ, năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ [15],[41], 75% người mắc sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [41].
Năm 2017, trên toàn cầu, ước tính có khoảng 462 triệu người bị ảnh hưởng bởi ĐTĐ type 2, tương ứng với 6,28% dân số thế giới. Hơn 1 triệu trường hợp tử vong được cho là do ĐTĐ chỉ trong năm 2017, là nguyên nhân tử vong thứ 9. Một số khu vực, như các quốc đảo ở Thái Bình Dương, đang có tỷ lệ lưu hành bệnh cao nhất. Các nước Đông Nam Á, như Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, đã tăng hạng trong hai thập kỷ qua [12].
Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn một chút so với nữ giới (6219 so với 5898/100.000 trường hợp). Tuổi bắt đầu phát hiện chẩn đoán mới cũng có phần sớm hơn ở nam giới, tỷ lệ mắc cao nhất ở tuổi 55 [51]. Bên cạnh đó, cùng với việc sử dụng thực phẩm không thích hợp gia tăng, ít/không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ type 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng [15]. Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 5,76 triệu người mắc.
Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ so sánh có điều chỉnh theo tuổi trong dân số VN là xấp xỉ 6% vào năm 2017 [60]. Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [15]. Đái tháo đường type 1 Nguyên nhân không rõ: một số trường hợp ĐTĐ type 1 không có nguyên nhân, bệnh này bị thiếu insulin trầm trọng và dễ bị nhiễm ceton acid nhưng không có bằng chứng tự miễn. Nguyên nhân di truyền: thể bệnh này có yếu tố di truyền rất rõ, thiếu các yếu tố tự miễn với tế bào β, không kết hợp với nhóm HLA, BN có lúc cần insulin để sống sót có lúc không.
Ngoài ra sự thiếu sót acid amin (acid aspartic) ở vị trí 57 của chuỗi DQ dễ mắc bệnh ĐTĐ type 1 hơn những người có acid amin này [1]. Đái tháo đường type 2 Đặc điểm quan trọng nhất trong sinh lý bệnh của ĐTĐ type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường: là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là: Sự thay đổi lối sống, chất lượng thực phẩm, các stress về tâm lý. Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: Đây là yếu tố không thể can thiệp được [13].
Sinh lý bệnh và phân loại 1. Đái tháo đường type 1 Do tế bào β bị phá hủy nên BN không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (1A), 5% vô căn (1B). BN bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton. BN cần insulin để ổn định glucose huyết.
Người lớn tuổi có thể bị ĐTĐ tự miễn diễn tiến chậm [31]. ĐTĐ type 1 tự miễn thường có các tự kháng thể (KT) trong máu trước khi xuất hiện bệnh, lúc mới chẩn đoán: kháng thể kháng Glutamic acid decarboxylase 5 65, KT kháng Insulin, KT kháng tyrosine phosphatase IA 2, KT kháng Zinc transpoeter 8. Khi bệnh kéo dài, các kháng thể sẽ giảm dần. Gen mã hóa nhóm phù hợp tổ chức lớp II DR DQ có liên quan đến tăng nguy cơ ĐTĐ type 1 [15].
Đái tháo đường type 2 Gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Giai đoạn đầu hoặc cả đời BN ĐTĐ type 2 không cần đến insulin. Đa số BN có béo phì hoặc thừa cân, béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào β bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào β sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ type 2 lâm sàng sẽ xuất hiện [31].
Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường. Yếu tố di truyền ảnh hưởng mạnh trong bệnh ĐTĐ type 2 [1]. Nếu tìm được một gen cụ thể gây tăng glucose huyết, BN sẽ được xếp vào thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ [15]. Đái tháo đường thai kỳ ĐTĐ thai kỳ Được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1, type 2 trước đó.
Nếu phụ nữ có thai 3 tháng đầu được phát hiện tăng glucose huyết thì chẩn đoán là ĐTĐ chưa được chẩn đoán hoặc chưa được phát hiện và dùng tiêu chí chẩn đoán như ở người không có thai [15],[16]. Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ - Đái tháo đường thứ phát Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen trội tại tế bào β. ĐTĐ đơn gen thể MODY (Maturity Onset Diabetes of the Young). Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen lặn tại tế bào β.
Khiếm khuyết gen liên quan đến hoạt tính insulin. ĐTĐ do thuốc, hóa chất. Các hội chứng bất thường nhiễm sắc thể khác đôi khi cũng kết hợp với ĐTĐ [20], [15]. Chẩn đoán Đái tháo đường Theo ADA dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn: - IFG (Impaired fasting glucose): Glucose ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: - IGT (Impaired glucose tolerance): Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g theo hướng dẫn của WHO ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) - HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol).
Xét nghiệm phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. - Ở BN có triệu chứng kinh điển hoặc mức glucose huyết ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển (tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán ở trên cần lặp lại lần 2 để xác định. Thời gian thực hiện sau lần 1 có thể từ 1-7 ngày.
Tại VN, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ [20]. Chẩn đoán tiền đái tháo đường Chẩn đoán tiền ĐTĐ khi có một trong các rối loạn sau đây: - IFG: Định lượng từ 100 (5,6mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L), hoặc - IGT: Glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống 75 g từ 140 (7.