ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại hội nhập kinh tế hiện nay, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn là một trong những chủ trƣơng lớn của nhà nƣớc ta. Trong đó chú ý tới việc phát triển kinh tế làng nghề đã góp phần đáng kể về đáp ứng việc làm cho nhân dân và giữ gìn văn hóa của dân tộc. Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa và công cuộc đổi mới đất nƣớc trong những năm vừa qua, đã đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, nâng cao đáng kể đời sống nhân dân. Những biến đổi nhiều mặt về đời sống xã hội và tăng trƣởng kinh tế, cũng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trƣờng thiên nhiên và môi trƣờng sống cộng đồng.
Tuy nhiên góp phần vào đấy là trong quá trình sản xuất có thể gây ra những ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng cũng nhƣ sức khỏe của con ngƣời. Sự suy thoái về môi trƣờng là vấn đề đã đƣợc cảnh báo và đã giành đƣợc quan tâm của toàn xã hội song vẫn là điều đáng lo ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đồng hành với sự phát triển mạnh mẽ của các nghành công nghiệp, các nghành tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây cũng phát triển một cách mạnh mẽ, đặc biệt là làng nghề. Làng nghề có ảnh hƣởng trực tiếp đến tốc độ, nhịp độ, hiệu quả vốn đầu tƣ, định hƣớng phát triển kinh tế quốc dân.
Cùng với sự phát triển đó một mặt tạo đƣợc sử phát triển phi nông nghiệp, tăng lao động cho nông thôn, tạo công ăn việc làm cho những ngƣời đang thất nghiệp song một mặt cũng tác động nguy hại tới môi trƣờng nông thôn. Nam Định là một tỉnh lớn với 2 triệu dân nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ với diện tích khoảng 1669,36 km2. Vị trí địa lí đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nam Định phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng giao lƣu kinh tế – xã hội, đƣợc đánh giá là tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Điển hình là các làng nghề truyền thống lâu năm.
Các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, nghề chế biến gỗ rất phát triển không những xuất khẩu ở trong nƣớc mà còn xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Thu nhập của ngƣời dân cũng từ đó mà tăng lên, đời sống đƣợc tăng lên. Tuy nhiên vấn đề gì nó cũng có hai mặt của nó, đi đôi với tăng trƣởng kinh tế thì vấn đề về ô nhiễm môi 1 trƣờng cũng từ đó mà xuất hiện và ngày một tăng cao. Theo nhƣ điều tra thì vấn đề ô nhiễm chất thải rắn, nguồn nƣớc và không khí đang là vấn đề cần đƣợc quan tâm nhất.
Làng La Xuyên thuộc xã Yên Ninh, Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, bên cạnh những cánh đồng lúa là những xƣởng thợ chạm gỗ cùng hàng nghìn thợ thủ công đang ra sức phát huy nghề truyền thống. Nổi tiếng với làng nghề mộc lâu đời, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện. Nhƣng đồng thời với sự phát triển sản xuất, trong hoạt động sản xuất có thể tiềm ẩn những tác động xấu tới môi trƣờng và sức khỏe ngƣời lao động cũng nhƣ dân cƣ xung quanh. Mặt khác để phát triển bền vững kinh tế, giảm thiểu tác động về môi trƣờng và đảm bảo sự hoạt động thì việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng là hết sức cần thiết.
Vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài khóa luận “Đánh giá tác động môi trường từ hoạt động sản xuất đồ mộc tại làng nghề La Xuyên – xã Yên Ninh – huyện Ý Yên – tỉnh Nam Định”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tình hình phát triển làng nghề Việt Nam 1.Khái niệm làng nghề Từ xa xƣa, ngƣời nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống nhƣ: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến….Các nghề này đƣợc lƣu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những ngƣời chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, đƣợc cải tiến kỹ thuật hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.
Nhƣ vậy, làng nghề đã xuất hiện. Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cƣơng tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phƣơng.
Một làng đƣợc gọi là làng nghề khi hội tụ hai điều kiện sau: - Có một số lƣợng tƣơng đối các hộ cùng sản xuất một nghề. - Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng.Phát triển làng nghề ở Việt Nam 1.Lịch sử phát triển của làng nghề Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, dƣới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nƣớc cũng nhƣ trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề cũng có những thay đổi lớn, có những thành công mới nhƣng cũng có không ít những vấn đề nan giải. 3 Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình nhƣ các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hƣng Yên, có từ thời nhà Lê, Nhà Lý).
Các làng nghề nông thôn đã có những bƣớc đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam. Vƣợt lên các nhu cầu về nông nghiệp, các sản phẩm nhƣ: đồ sành sứ, đồ gốm, vải vóc, đồ ăn, đồ thờ cúng, hàng mỹ nghệ, giấy…đã đƣợc chế biến phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày, phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa và cho cả xuất khẩu. Làng nghề trƣớc Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nó đƣợc hình thành từ các nghề cũ và một số nghề mới đƣợc phát triển nhằm đáp ứng thị trƣờng luôn thay đổi phức tạp (nhìn chung không khác lắm so với các nghề đƣơng thời). Thời gian này, nghề dệt lụa (Hà Đông) đã có những bƣớc tiến xa hơn, trở thành nghề thủ công xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho số lƣợng lao động lớn.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của làng nghề thành các giai đoạn sau: Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã. Tại một số làng nghề đã xuất hiện những tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nƣớc XHCN, với các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ. Do đó, chủng loại, số lƣợng và giá trị hàng hóa đƣợc quyết định bởi đƣờng lối, chính sách của Nhà nƣớc. Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một.
Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự suy sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đƣờng cải thiện cuộc sống theo con đƣờng tự phát. Nhiều làng nghề đã đƣợc khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân. Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó đƣợc đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trƣờng.
Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng. Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã đƣợc khôi phục và phát triển, mở rộng quy 4 mô sản xuất, đầu tƣ vốn, kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lƣợng và kim ngạch xuất khẩu…Điển hình nhƣ làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình… Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Do tìm đƣợc hƣớng đi mới cho các sản phẩm của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam bƣớc sang một giai đoạn mới. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trƣờng của Việt Nam không ngừng đƣợc mở rộng. Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn duy trì đƣợc cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (nhƣ làng Chạm bạc Đồng Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng…).
Hơn nữa nhiều làng nghề mới đã đƣợc hình thành (Làng gỗ Đồng Kỵ, gạch ngói Hƣơng Canh…). Cho đến nay, cả nƣớc có 2.017 làng nghề dải khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, trong đó tập trung phần lớn ở vùng Đồng bằng sông Hồng. Các làng nghề thu hút hơn 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận dân cƣ khu vực nông thôn. Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trƣờng, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trƣờng…).
Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nƣớc và thế giới nói chung.