ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang diễn ra khắp mọi miền trên cả nƣớc. Đi cùng là những dự án đầu tƣ xây dựng lớn mạnh nhằm nâng cao chất lƣợng kinh tế, chất lƣợng xã hội. Tuy nhiên, việc phát triển ồ ạt các dự án, các hoạt động phát triển kinh tế mà quên đi vấn đề tác động của chính những điều này tới môi trƣờng, xã hội và gây ra những hậu quả nhất định mà chính chúng ta phải gánh chịu. Trong đó, thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế, văn hóa giáo dục và việc thực hiện dự án đánh giá tác động môi trƣờng cho dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu dân cƣ dọc đƣờng 295B, phƣờng Xƣơng Giang, thành phố Bắc Giang là hết sức cần thiết góp phần từng bƣớc hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Bắc Giang đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050.
Dự án đƣợc thực hiện sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu dãn dân cho nhân dân trong khu vực dự án cũng nhƣ hoàn thiện dần về hạ tầng của phƣờng góp phần hiện đại hóa đô thị và tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội cho khu vực. Tuy nhiên, khi tiến hành xây dựng dự án sẽ gây ra rất nhiều tác động đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí và cả hệ sinh thái. Chính vì vậy, để đảm bảo rằng dự án đƣợc thực hiện đúng quy định của nhà nƣớc, dự án hoàn thành đạt đƣợc sự phát triển bền vững thì đầu tiên cần thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng. Để tránh những tác động tiêu cực của dự án đến môi trƣờng và đến chính con ngƣời chúng ta.
Bên cạnh đó đánh giá tác động môi trƣờng là công cụ pháp lý và kỹ thuật quan trọng để xem xét, dự báo các tác động tới môi trƣờng, tới xã hội của các dự án. Từ những lí do trên em lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động môi trường cho dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu dân cư dọc đường 295B, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang” nhằm đánh giá các tác động của dự án đến môi trƣờng nhƣ thế nào và đề xuất các giải pháp cải thiện vấn đề đó. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đánh giá tác động môi trƣờng 1.
Lịch sử phát triển của đánh giá tác động môi trường a. Trên thế giới Môi trƣờng đã đƣợc con ngƣời nhận thức từ rất lâu, nhƣng thuật ngữ “môi trƣờng”, vấn đề môi trƣờng chỉ mới nhắc đến và đặt ra kể từ cuối những năm 60, đầu những năm 70. Năm 1969, “Đạo luật chính sách môi trường” của Mỹ đã đƣợc thông qua và khái niệm đánh giá tác động môi trƣờng đã đƣợc ra đời. Sau đó là một số nƣớc nhƣ Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore đã yêu cầu có báo cáo ĐTM cho các dự án phát triển.
Nhu cầu về công tác ĐTM bắt đầu lan rộng đến nhiều nƣớc trên thế giới, không chỉ ở những nƣớc lớn có nền công nghiệp phát triển mà ngay cả các nƣớc đang phát triển cũng nhận thức đƣợc các vấn đề môi trƣờng và vai trò của ĐTM. Tại Châu Á hầu hết các nƣớc trong khu vực đã quan tâm đến môi trƣờng từ những thập kỷ 70 nhƣ: Tại Philippin, tổng thống Philippin đã ban hành các Nghị định trong đó yêu cầu thực hiện ĐTM và hệ thống thông báo tác động môi trƣờng cho các Dự án phát triển; Tại Malaysia từ 1979 Chính phủ đã ban hành Luật Bảo vệ Môi trƣờng và từ năm 1981 vấn đề đánh giá tác động môi trƣờng đã đƣợc thực hiện đối với các Dự án năng lƣợng, thủy lợi, công nghiệp, giao thông, khai hoang; Tại Thái Lan nội dung và các bƣớc thực hiện cho ĐTM cho các Dự án phát triển đƣợc thiết lập từ năm 1978, đến năm 1981 thì công bố danh mục Dự án phải tiến hành ĐTM; Tại Trung Quốc luật Bảo vệ Môi trƣờng đƣợc ban hành từ năm 1979, trong đó điều 6 và 7 đƣa ra các cơ sở cho các yêu cầu đánh giá tác động môi trƣờng cho các Dự án phát triển. Ở Việt Nam Những năm 1975, mặc dù chúng ta đang còn phải tập trung vào công cuộc khôi phục lại đất nƣớc sau chiến tranh. Tuy vậy, đầu những năm 80 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận và nghiên cứu công tác ĐTM thông qua hội thảo khoa học và khóa học đào tạo tại Đông – Tây ở Hawai nƣớc Mĩ.
Sau năm 1990 nhà nƣớc ta tiến hành trực tiếp nghiên cứu về ĐTM do Giáo sƣ Lê Thạc Cán chủ trì. Các cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trƣờng đã đƣợc thành lập nhƣ: Cục môi trƣờng trong Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng; Các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng; Các 2 trung tâm, Viện Môi trƣờng… Các cơ quan này đảm nhận việc lập báo cáo ĐTM và tiến hành thẩm định các báo cáo ĐTM. Một số báo cáo mẫu đã đƣợc lập, điều này thể hiện đƣợc sự quan tâm của nhà nƣớc ta đến công tác ĐTM. Ngày 27/12/1993 Quốc hội nƣớc ta đã thông qua Luật Môi trƣờng và Chủ tịch nƣớc ra quyết định số 29L/CTN ngày 10/01/1994.
Chính phủ cũng đã ra nghị định về hƣớng dẫn thi hành Luật bảo vệ Môi trƣờng vào tháng 10/1994. Từ năm 1994 đến cuối năm 1998, Bộ Khoa học và Công nghệ Môi trƣờng đã ban hành nhiều văn bản hƣớng dẫn ĐTM, tiêu chuẩn môi trƣờng đã góp phần đƣa công tác ĐTM ở Việt Nam dần đi vào nề nếp và trở thành công cụ để quản lý môi trƣờng. Sau khi Luật môi trƣờng ra đời nhiều báo cáo ĐTM cũng đã đƣợc thẩm định góp phần giúp đỡ những ngƣời ra quyết định có thêm tài liệu xem xét toàn diện các Dự án phát triển ở Việt Nam đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Hiện nay, Việt Nam đã có một đội ngũ tƣơng đối đông đảo những ngƣời làm ĐTM, trong đó có nhiều chuyên gia đƣợc đào tạo trong nƣớc và ngoài nƣớc, bƣớc đầu đã tập hợp đƣợc những kinh nghiệm ứng dụng qua các công trình đã đánh giá trong thực tế.
Việc thực hiện ĐTM còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết, tuy nhiên có thể nói sau hơn một thập kỷ cho đến nay hệ thống văn bản pháp lý cho thực hiện ĐTM đã tƣơng đối đầy đủ và tiếp cận đƣợc yêu cầu của thực tế. Việc thực hiện ĐTM đã dần đi vào nề nếp đã có đóng góp đáng kể cho thực hiện phát triển bền vững của đất nƣớc. Khái niệm về đánh giá tác động môi trường Đánh giá tác động môi trƣờng (Environmental Impact Assessmen) là một khái niệm mới ra đời trong mấy chục năm gần đây. Đã có nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá tác động môi trƣờng, mỗi định nghĩa tuy có nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau nhƣng đều nêu lên những điểm chung của ĐTM là đánh giá, dự báo các tác động môi trƣờng và đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực chủ yếu của Dự án.
- Theo định nghĩa rộng của Mun (1979): “Đánh giá tác động môi trường phải được phát hiện và dự đoán những tác động đối với môi trường cũng như đối với sức khỏe và cuộc sống của con người, của các đề xuất, các chính sách, chương trình, Dự án, quy trình hoạt động và cần phải chuyển giao và công bố những thông tin về các tác động đó”. - Theo định nghĩa hẹp của cục môi trƣờng Anh: “Thuật ngữ đánh giá tác động môi trường chỉ một kỹ thuật, một quy trình giúp chuyên gia phát triển tập hợp những thông 3 tin về sự ảnh hưởng đối với môi trường của một Dự án và những thông tin này sẽ được những nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra quyết định về phương hướng phát triển”. Năm 1991, Ủy ban Liên hợp quốc về các vấn đề kinh tế Châu Âu định nghĩa: “Đánh giá tác động môi trường là đánh giá tác động của một hoạt động có kế hoạch đối với môi trường”. - Trong luật bảo vệ môi trƣờng số 55/2014/QH13 của Việt Nam đƣa ra: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”.
Các định nghĩa trên đều nêu lên các nội dung chủ yếu mà đánh giá tác động môi trƣờng phải thực hiện. Tuy nhiên ở đây cần thấy rõ là đánh giá tác động môi trƣờng bao gồm đánh giá cả các tác động môi trƣờng tự nhiên cũng nhƣ môi trƣờng xã hội, đánh giá các nguy cơ xảy ra các sự cố môi trƣờng cũng nhƣ phân tích hiệu quả kinh tế môi trƣờng của dự án. Mục đích, ý nghĩa và đối tượng đánh giá tác động môi trường a. Mục đích - Đánh giá tác động môi trƣờng cung cấp một quy trình xem xét tất cả các hoạt động có hại đến môi trƣờng khi dự án đƣợc hoạt động - Cộng đồng có thể tham gia và đóng góp ý kiến của mình tới chủ dự án và cung cấp chính quyền để đƣa ra phƣơng án giải quyết có hiệu quả nhất - Đánh giá tác động môi trƣờng còn xem xét lợi ích của bên đề xuất dự án, chính phủ và cộng đồng để lựa chọn dự án tốt hơn để thực hiện - Trong đánh giá tác động môi trƣờng phải xem xét đến khả năng thay thế nhƣ công nghệ, địa điểm đặt dự án phải xem xét hết sức cẩn thận - Đánh giá tác động môi trƣờng chấp nhận sự phát thải ô nhiễm kể cả việc sử dụng không hợp lý tài nguyên, tức là chấp nhận phát triển kinh tế.
Ý nghĩa - Đánh giá tác động môi trƣờng là công cụ quản lý môi trƣờng giúp đạt đến phát triển bền vững. Những hoạt động có hại cho môi trƣờng hiện nay phải đƣợc quản lý càng chặt chẽ càng tốt. Trong một số trƣờng hợp, các hoạt động đó tuy đã bị đình chỉ nhƣng hậu quả môi trƣờng do chúng để lại vẫn kéo dài hàng chục năm. Sẽ rất có lợi nếu những tác động tiêu cực đó đƣợc giải quyết sớm ngay từ giai đoạn quy hoạch;- 4 Đánh giá tác động môi trƣờng đảm bảo hiệu quả cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng - Đánh giá tác động môi trƣờng góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý của chủ Dự án đến việc bảo vệ môi trƣờng - Đánh giá tác động môi trƣờng khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn, giúp cho Dự án hoạt động có hiệu quả hơn c.