Mở đầu Chƣơng 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội lƣu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn Chƣơng 2: Cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt Chƣơng 3: Đánh giá tính dễ tổn thƣơng do lũ lƣu vực sông Bến Hải – Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục Luận văn đã đƣợc hoàn thành tại Khoa Khí tƣợng Thủy văn và Hải dƣơng học Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội. Để hoàn thành luận văn này tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa, gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ trong suốt thời gian vừa qua. Đặc biệt, xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành nhất đến thầy PGS.
Nguyễn Thanh Sơn, ngƣời đã tận tình chỉ bảo, đóng góp cho tác giả rất nhiều ý kiến để hoàn thành tốt luận văn này. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI LƢU VỰC SÔNG BẾN HẢI – THẠCH HÃN 1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Vùng nghiên cứu gồm hai lƣu vực sông Bến Hải và Thạch Hãn thuộc tỉnh 2 Quảng Trị với tổng diện tích là 3469 km (chiếm 73% diện tích cả tỉnh) trải dài từ từ 16018 đến 170 11 vĩ độ Bắc, 106032 đến 107024 kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp lƣu vực sông Ô Lâu và tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây giáp lƣu vực sông Sê Păng Hiêng và Sê Pôn và lãnh thổ Lào, gồm 8 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã [8].Bản đồ khu vực nghiên cứu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. ĐỊA HÌNH ĐỊA MẠO Vùng nghiên cứu có thế dốc chung từ dãy Trƣờng Sơn đổ ra biển. Do sự phát triển của các bình nguyên đồi thấp nên địa hình ở vùng này rất phức tạp.
Theo chiều Bắc Nam, phần đồng bằng địa hình có dạng đèo thấp, thung lũng sông - đèo thấp. Theo chiều Tây - đông, địa hình ở đây có dạng núi cao, đồi thấp, nhiều nơi theo dạng bình nguyên - đồi, đồng bằng, đồi thấp ven biển. Có thể phân chia địa hình ở đây theo các dạng đặc trƣng sau [3]: Vùng cát ven biển: dải cát này chạy dọc từ cửa Tùng đến bãi biển Mỹ Thuỷ theo dạng cồn cát. Chiều rộng cồn cát nơi rộng nhất tới 3km -4 km, dài đến 35 km.
Dốc về 2 phía: đồng bằng và biển, cao độ bình quân của các cồn cát từ 6m - 4 m. Vùng cát có lớp phủ thực vật nghèo nàn. Cát ở đây di chuyển theo các dạng cát chảy theo dòng nƣớc mƣa, cát bay theo gió lốc, cát di chuyển theo dạng nhảy do mƣa đào bới và gió chuyển đi; dạng cồn cát này có nguy cơ di chuyển chiếm chỗ của đồng bằng. Tuy nhiên dạng địa hình này có khả năng cải tạo thành vùng trồng cây trồng cạn nếu nhƣ có nƣớc để cải tạo Vùng đồng bằng: ở đây là các thung lũng sâu kẹp giữa các dải đồi thấp và cồn cát hình thành trên các cấu trúc uốn nếp của dãy Trƣờng Sơn, có nguồn gốc mài mòn và bồi tụ.
Ở đây có các vùng đồng bằng rộng lớn nhƣ: Đồng bằng hạ du sông Bến Hải, cao độ biến đổi từ 1 – 2. 5 m; địa hình bằng phẳng, đã đƣợc khai thác từ lâu đời để sản xuất lúa nƣớc. Xuôi theo chiều dài dòng chảy của sông Sa Lung, dạng đồng bằng này có tới gần 8. Đồng bằng dọc sông Cánh Hòm: là dải đồng bằng hẹp chạy từ phía Nam cầu Hiền Lƣơng tới bờ Bắc sông Thạch Hãn, thế dốc của dải đồng bằng này là từ 2 phía Tây và đông dồn vào sông Cánh Hòm.
Cao độ bình quân dạng địa hình này từ 0. Dạng địa hình này cũng đã cải tạo để gieo trồng lúa nƣớc. Đồng bằng hạ du sông Vĩnh Phƣớc và đồng bằng Cam Lộ: dạng địa hình bằng phẳng, tập trung ở Triệu Ái, Triệu Thƣợng (Vĩnh Phƣớc). Cao độ bình quân dạng địa hình này từ 3m- 1m.
Đây là cánh đồng rộng lớn của Triệu Phong và thành phố đông Hà. Địa hình đồng bằng có cao độ bình quân từ 2m – 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4m, dải đồng bằng này hẹp chạy theo hƣớng Tây - Đông, kẹp 2 bên là các dãy đồi thấp. Địa hình đồng bằng phù sa phân bố ven sông nằm kẹp giữa vùng gò đồi phía Tây và vùng cát ven biển, các cánh đồng nhỏ hẹp, có độ cao không đều là thành tạo của các quá trình bồi đắp phù sa của các hệ thống sông và các dải đất dốc tụ đƣợc khai phá từ lâu phân bố dọc theo quốc lộ 1A. Một dạng địa hình nữa trong vùng nghiên cứu là các thung lũng hẹp độc lập diện tích khoảng 5 - 50 ha cũng đã đƣợc khai thác để trồng lúa nƣớc.
Vùng núi thấp và đồi: địa hình vùng đồi ở đây có dạng đồi bát úp liên tục, có những khu nhỏ dạng bình nguyên nhƣ khu đồi Hồ Xá (Vĩnh Linh) và khu Cùa (Cam Lộ). Độ dốc vùng núi bình quân từ 15 - 180. Địa hình này rất thuận lợi cho việc phát triển cây trồng cạn, cây công nghiệp và cây ăn quả; cao độ của dạng địa hình này là 200 – 1000 m, có nhiều thung lũng lớn. Vùng núi cao: Do chiều ngang tỉnh Quảng Trị hẹp, từ dải Trƣờng Sơn ra đến biển khoảng 100km, núi cao nên địa hình này dốc, hiểm trở; các triền núi cao có xen kẽ các cụm đá vôi đƣợc hình thành do quá trình tạo sơn xảy ra vừo đầu đại mêzôzôi tạo nên dãy Trƣờng Sơn.
Dạng này phân bố phía Tây, giáp theo biên giới Việt – Lào theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam với bậc địa hình từ 1000 – 1700 m với bề mặt bị xâm thực và chia cắt mạnh. ĐỊA CHẤT THỔ NHƢỠNG Địa tầng phát triển không liên tục, các trầm tích từ Paleozoi hạ tới Kainozoi trong đó trầm tích Paleozoi chiếm chủ yếu, gồm 9 phân vị địa tầng, còn lại 6 phân vị thuộc Meôzoi và Kainozoi. Địa chất trong vùng có những đứt gãy chạy theo hƣớng từ đỉnh Trƣờng Sơn ra biển tạo thành các rạch sông chính cắt theo phƣơng Tây Đông. Tầng đá gốc ở đây nằm sâu, tầng phủ dày, có rất nhiều quặng nhƣng phân bố rất phân tán, không thành khu tập trung [3].
Vỏ phong hoá chủ yếu phát triển trên đất đá bazan (Hƣớng Hóa) vùng trầm tích biển và phù sa sông; vùng gò đồi có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng sông thuộc địa phận huyện Gio Linh, Cam Lộ nằm trên vỏ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phong hóa Mazma và vùng đồi, núi dãy Trƣờng Sơn. THẢM PHỦ THỰC VẬT Trong thời gian chiến tranh, tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng bị huỷ diệt khốc liệt, lớp phủ thực vật bị tàn phá. Rừng trồng theo chƣơng trình hỗ trợ của PAM dọc các quốc lộ hoặc tỉnh lộ phát triển nhanh và có hiệu quả môi trƣờng rõ rệt. Từ các Chƣơng trình Quốc gia 327, 264 và kế hoạch trồng rừng, trồng cây nhân dân của cấp tỉnh, phát động và đầu tƣ, đã nâng cao tỷ lệ che phủ rừng khá nhanh, độ che phủ rừng đã tăng bình quân 1%/năm [7].
KHÍ HẬU Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang đầy đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt Nam. Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mƣa. Mùa khô từ tháng XII tới tháng VIII năm sau, mùa mƣa từ tháng IX tới tháng XI. Từ tháng III đến tháng VIII chịu ảnh hƣởng của gió Tây Nam khô và nóng.
Từ tháng IX đến tháng II năm sau chịu ảnh hƣởng của gió Đông Bắc đi liền với mƣa phùn và rét đậm [7].1 Mƣa bình quân nhiều năm (mm) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Vĩnh Linh 1299 83.3 Mƣa trong vùng phụ thuộc vào yếu tố địa hình trên từng lƣu vực. Lƣợng mƣa hàng năm nằm trong khoảng 2.700 mm, cao hơn mức trung bình của cả nƣớc. Lƣợng mƣa 3 tháng mùa mƣa chiếm tới 68 - 70% lƣợng mƣa năm. Tổng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lƣợng mƣa 9 tháng mùa khô chỉ chiếm 30% tổng lƣợng mƣa năm.
Trong các tháng mùa khô từ tháng XII đến tháng IV thƣờng có những trận mƣa rào nhẹ cách nhau từ 7 đến 8 ngày với lƣợng mƣa trần từ 20 - 30mm, giữa 2 mùa khô có 1 thời kỳ mƣa lớn là tháng V và tháng VI gọi là mƣa tiểu mãn. Lƣợng mƣa trong năm của Quảng Trị phân bố không đều cả về không gian lẫn thời gian. Theo thống kê lƣợng mƣa bình quân nhiều năm của các trạm thể hiện trên bảng 1. Nhiệt độ không khí Nhiệt độ không khí trong vùng thấp nhất vào mùa đông (tháng XI tới tháng III), cao nhất vào mùa hè (tháng V tới tháng VIII).
Nhiệt độ bình quân 0 0 nhiều năm vào khoảng 24,3 C. Chênh lệch nhiệt độ trong ngày từ 7 tới 10 C. Nhiệt độ bình quân tháng tại các trạm trong vùng nghiên cứu đƣợc thể hiện ở bảng 1.2 Nhiệt độ bình quân tháng tại các trạm ( C) Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Đông Hà 19. Độ ẩm tƣơng đối Độ ẩm tƣơng đối bình quân nhiều năm nằm trong khoảng 85% tới 89%.
Bốc hơi Bốc hơi bình quân nhiều năm nằm trong khoảng 1200-1300mm. Ở vùng đồng bằng bốc hơi bình quân nhiều năm cao hơn vùng núi. Số giờ nắng Bình quân số giờ nắng trong năm khoảng 1840 giờ. Gió và bão Lƣu vực sông Thạch Hãn chịu chế độ khí hậu nhiệt đới, gió mùa.
Một năm có 2 chế độ gió mùa chính: Gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh vào mùa hè từ tháng IV đến tháng XI, tốc độ gió bình quân 2. Gió mùa này mang 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ ẩm và gây mƣa cho vùng. Gió mùa Tây Bắc hoạt động mạnh từ tháng XII đến tháng III năm sau, tốc độ gió bình quân từ 1. Thời gian chuyển tiếp các hƣớng gió Tây Nam và Tây Bắc là thời gian giao thời và gió Tây khô nóng hoạt động vào tháng IV, tháng V.
Thời kỳ có gió Lào là thời kỳ nóng nhất trong tỉnh Quảng Trị. Bão và xoáy thuận nhiệt đới là những biến động thời tiết trong mùa hạ, hoạt động rất mạnh mẽ và thất thƣờng. Bão theo hƣớng chính Tây chiếm khoảng 30%. Bình quân mỗi năm có 2 - 3 cơn bão đổ bộ vào Quảng Trị.
Vùng ven biển Quảng Trị bão và áp thấp nhiệt đới thƣờng gặp nhau tới 78%, do vậy khi có bão thƣờng gặp mƣa lớn sinh lũ trên các triền sông.