Chương I, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2005). * Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: “Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền” (World Tourism Organization, 1995). Khách du lịch quốc tế Năm 1963, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về du lịch được tổ chức ở Roma, Ủy ban thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra một khái niệm về Khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghề để được nhận thu nhập từ nước được viếng thăm”. Khái niệm trên khá rõ và chi tiết nhưng vẫn chưa xác định giới hạn về thời gian lưu lại của khách du lịch tại các điểm đến.
Năm 1989, tại Hội nghị liên minh Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye (Hà Lan) đã ra “Tuyên bố Lahaye về du lịch”, trong đó đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người: (1) trên đường đi thăm một hoặc một số nước, khác với nước mà họ cư trú thường xuyên; (2) mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không quá thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn; (3) không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại; (4) sau khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác. Hiện nay trên thế giới, nhiều nước sử dụng khái niệm này. Chương V, Điều 34 Luật Du lịch Việt Nam đã khái niệm khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2005). 11 Tổ chức Du lịch Thế giới đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế dựa trên 3 tiêu thức (mục đích, thời gian, không gian): “Khách du lịch quốc tế là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến” (World Tourism Organization, 1995).
Khách du lịch quốc tế được phân thành 2 loại: Thứ nhất, khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): là người nước ngoài và người của một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi du lịch. Loại khách này sử dụng ngoại tệ để mua hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ: người Pháp và Việt kiều Pháp vào Việt Nam du lịch. Thứ hai, khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch.
Ví dụ: người Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch đến nước khác (Mỹ, Thái Lan…) 2. Vai trò của du lịch quốc tế Về cơ bản, du lịch quốc tế là một loại hình của du lịch do đó nó sẽ mang những vai trò nhất định của du lịch. Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Oanh Kiều (2014) xếp những vai trò ấy thành những nhóm sau: 2. Vai trò về mặt kinh tế Về mặt kinh tế, du lịch quốc tế có những vai trò sau: Du lịch mang lại ngoại tệ cho đất nước.
Khác với việc xuất khẩu hàng hóa thông thường là đưa hàng hóa ra nước ngoài để thu ngoại tệ về, xuất khẩu du lịch lại thu ngoại tệ từ việc khách trả tiền cho các hoạt động của mình khi họ đến du lịch tại nước sở tại. Khách từ nước ngoài đến du lịch tại Việt Nam được xem như là hoạt động xuất khẩu du lịch, nghĩa là khi một người có thu nhập từ nước ngoài đến du lịch tại Việt Nam đồng nghĩa với việc luồng ngoại tệ đã chảy vào Việt Nam, hoạt động tiêu tiền (dùng tiền để mua hàng hóa trong nước) của khách du lịch nước ngoài tại Việt Nam chính là hoạt động xuất khẩu du lịch của Việt Nam. Khi khách du lịch đến Việt Nam càng nhiều thì dòng ngoại tệ đổ vào Việt Nam cũng sẽ tăng lên góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Ngoài ra, trên quan điểm xem du lịch là hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia, du lịch còn góp phần làm 12 tăng GDP của đất nước.
Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao. Du lịch là hoạt động xuất khẩu, tuy nhiên hoạt động xuất khẩu du lịch không giống như hoạt động xuất khẩu hàng hóa khác, nó mang lại hiệu quả cao hơn vì hai lý do sau: Thứ nhất, xuất khẩu du lịch là hoạt động "xuất khẩu tại chỗ" và có lợi thế hơn xuất khẩu thông thường về nhiều mặt: (1) không đòi hỏi một khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao tập trung vào một thời điểm nhất định; (2) tiết kiệm được chi phí lưu thông và những rủi ro trên đường vận chuyển; (3) không phải chịu thuế xuất, nhập khẩu và được bán với giá bán lẻ; (4) xuất khẩu du lịch còn có thể thu được “địa tô du lịch” (giá của các khách sạn, nhà hàng nằm ở trung tâm thành phố, gần biển… thường cao hơn so với các khách sạn, nhà hàng cùng loại); và (5) ít chịu rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế. Thứ hai, xuất khẩu du lịch là hoạt động “xuất khẩu vô hình” có ưu điểm là chỉ bán cho khách du lịch quốc tế những quyền được cảm nhận giá trị tài nguyên du lịch tại nơi đến du lịch trong khi tài nguyên du lịch vẫn giữ nguyên giá trị. Du lịch thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển.
Sản phẩm du lịch được cấu thành từ rất nhiều các sản phẩm đơn lẻ khác nhau như: vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, vui chơi giải trí… Đây là sản phẩm của rất nhiều ngành kinh doanh. Hoạt động du lịch càng phát triển thì điều này rõ ràng sẽ kích thích các ngành nghề kinh doanh trên phát triển theo. Ví dụ: để có một sản phẩm ăn uống phục vụ khách du lịch, nhà hàng phải sử dụng rất nhiều sản phẩm khác nhau như: sản phẩm thủy sản của doanh nghiệp chế biến thủy sản, rau, hoa quả của các doanh nghiệp trồng trọt, thịt của các doanh nghiệp chăn nuôi, sử dụng trang thiết bị dụng cụ phục vụ ăn uống của các doanh nghiệp sản xuất hàng gia dụng, các loại khăn trải bàn, khăn lau đến từ các doanh nghiệp may mặc. Du lịch kích thích hoạt động đầu tư.
Nhìn chung sự phát triển của bất cứ ngành nào cũng tạo cơ hội đầu tư. Khác với các ngành kinh tế khác, du lịch có một cấu trúc độc đáo: đó là ngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và hàng loạt các dịch vụ khác nhau như lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, vận chuyển… Ngoài ra, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng như: đường sá, công viên, hệ thống cấp nước – điện, viễn thông… và đôi khi cả cấu trúc thượng tầng: nghệ thuật, 13 lễ hội, văn hóa dân gian… nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ kích thích đầu tư rộng rãi của người dân, của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Du lịch tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đặc thù của ngành du lịch là có hệ số sử dụng lao động rất cao, do đó du lịch là ngành tạo cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm cho người dân trong xã hội, cụ thể: (1) tạo ra nhiều việc làm trực tiếp như công việc tại các khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch…; (2) tạo ra nhiều việc làm mang tính thời vụ hoặc nhất thời; (3) tạo công việc cho các nhà quản lý như quản lý văn phòng, quản lý khách sạn, quản lý nhà hàng, bếp trưởng hoặc giám đốc marketing… (4) tạo ra việc làm gián tiếp như cung cấp lương thực thực phẩm, xây dựng… Du lịch góp phần làm tăng thu nhập về thuế cho Nhà nước.
Khi khách du lịch đến và sử dụng sản phẩm dịch vụ trong hoạt động du lịch, thì chi tiêu của họ đã bao gồm các khoản thuế nộp cho Nhà nước. Số lượng khách du lịch đến càng nhiều thì khả năng chi tiêu càng cao và các khoản thuế họ nộp vào Nhà nước tương ứng càng lớn. Ngoài ra khách du lịch quốc tế còn đóng góp các khoản thu nhập khác như phí nhập cảnh, thuế hải quan… Các khoản thuế mà họ đóng thường là thuế trực tiếp như thuế khởi hành (departure tax) phải trả ở các sân bay hoặc thuế phòng (bed tax) cộng thêm vào hóa đơn thanh toán lưu trú tại khách sạn. Cũng có thể là thuế gián tiếp như thuế máy bay tiếp đất, thuế nhiên liệu máy bay hoặc thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hóa, dịch vụ.
Vì khách du lịch không phải là công dân của địa phương hoặc quốc gia nên những khoản thuế mà họ đóng là nguồn thu thêm cho Nhà nước. Du lịch tạo cơ sở để phát triển các vùng đặc biệt. Du lịch thường được gọi là ngành công nghiệp sạch bởi vì nó không cần hầm mỏ cũng như các nhà máy chế biến. Ngoài ra, nó được coi là một ngành tăng trưởng nhanh bởi vì một khi các yêu cầu cơ bản được đáp ứng thì số khách du lịch có thể tăng lên với tỷ lệ cao.
Cùng với các lợi ích của mình, du lịch sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho các vùng, địa phương có những vấn đề khó khăn nhất định của một quốc gia như các vùng núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Mặt khác, do phát triển các khu du lịch làm cho người dân địa phương trước đây không muốn sinh sống ở những vùng núi, hải đảo, vùng sâu và vùng xa nay nhận thức được lợi ích do du lịch mang lại đã thuyết phục 14 họ chuyển đến và yên tâm định cư tại các vùng này. Du lịch quảng bá cho sản xuất của địa phương.