Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Công trình nghiên cứu kỹ lưỡng nhất về Bò sát, ếch nhái do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật phối hợp với Viện Động vật Xanh Petecbua (Nga), Bảo tàng Hoàng gia Ontario (Canada), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ. Chương trình hợp tác này được tiến hành trong 2 giai đoạn 1993 - 1997 và 1999 - 2000 ở VQG Tam Đảo. Kết quả của các nghiên cứu này đã ghi nhận được 123 loài bò sát thuộc 17 họ, 3 bộ và 56 loài ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ.
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy khu hệ Bò sát và ếch nhái của VQG Tam Đảo đa dạng vào loại bậc nhất ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác giả còn ghi nhận được 30 loài quý hiếm và đặc hữu; phát hiện 1 loài ếch nhái mới cho khoa học - Leptplatex sung (năm 1998). Phân bố của các loài Bò sát và ếch nhái theo sinh cảnh cũng đã được đề cập trong nghiên cứu này. Các tác giả đã xác định tác động lớn nhất đến các loại Bò sát và ếch nhái ở VQG Tam Đảo là áp lực do buôn bán và sử dụng quá mức.
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và các chuyên gia thuộc Viện Động vật Saint Peterburg (2007), đã tìm thấy loài Cá cóc bụng hoa hay còn gọi là Cá cóc tam đảo ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng (BTTN ĐS - KT) tại huyện Hoành Bồ. Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật phối hợp với các nhà nghiên cứu Vườn thú Cologne (CHLB Đức, 2007) đã phát hiện loài Cá cóc Việt Nam ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Năm 2013 các nhà nghiên cứu đại học Kyoto (Nhật Bản) và bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã công bố một loài Cá cóc mới trên tạp chí Current Herpetology. Loài mới được mô tả dựa trên kết quả so sánh về mặt hình thái và sinh học phân tử với các loài Cá cóc đã ghi nhận ở Việt Nam và các nước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 láng giềng như Trung Quốc, Lào.
Mẫu vật của loài mới được nhóm nghiên cứu thu thập ở vùng núi tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam là một quốc gia có dạng sinh học cao có nhiều loài động, thực vật đặc hữu nói chung, đặc biệt là loài bò sát, lưỡng cư. Chúng không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái, kinh tế mà chúng còn là nguồn dược liệu quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Bò sát ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX, giai đoạn này chủ yếu là do các nhà khoa học nước ngoài tiến hành như: Tirant (1885), Boulenger (1903), Smith (1921, 1924, 1932).
Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu Bò sát Đông Dương của Bourret từ 1934 - 1944, trong đó có ở nước ta. Công trình nghiên cứu của ông bao gồm: 1934 - 1941: Các thông báo về Bò sát - Lưỡng cư Đông Dương (Phần 1); 1942: Khu hệ Ếch nhái Đông Dương và các loại Rùa Đông Dương. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành từ nhiều khu vực khác nhau trên cả nước từ những thập kỷ trước. Đầu thế kỷ XX (1924 – 1944) ở Đông Dương Bourret một nhà khoa học người Pháp, đã ghi nhận 177 loài và phân loài Thằn lằn, 145 loài và phân loài Rắn, 45 loại và phân loại Rùa và 171 loài và phân loài Ếch nhái.
Nhìn chung, trong giai đoạn này các công trình chỉ dừng lại ở mức thu thập tiêu bản, thống kê phân loại, địa bàn nghiên cứu chưa rộng mà chỉ mới tập trung vào những khu vực có điều kiện. (Nguồn: Trích dẫn Báo cáo đề tài KT 02. Nguyễn Văn Sảng, Hồ Thu Cúc (1996). Trong giai đoạn từ 1945 đến 1954 do ảnh hưởng của chiến tranh nên hầu như không có nghiên cứu nào đáng chú ý.
Từ năm 1954 đến năm 1975, có một công trình nghiên cứu được thực hiện ở miền Bắc Việt Nam, đã thống kê có tổng số 68 loại Ếch nhái và 159 loài Bò sát (Trần Kiên và cs, 1981). Ở miền Nam, Campden - Main (1970) mô tả 77 loài Rắn trong cuốn sách nhận dạng của mình. Từ năm 1976 đến 1980, trong chương trình hợp tác nghiên cứu giữa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các cơ quan của Việt Nam và Nga, một số nghiên cứu Bò sát đã được thực hiện ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Sau hòa bình lập lại ở Miền Bắc Việt Nam (1954) các nghiên cứu về thành phần Lưỡng cư, Bò sát mới được tăng cường bởi các tác giả Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1970 đến năm 1990 đã có thêm một số công trình: “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam”, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hổ Thu Cúc (1981) đã thống kê được 159 loại Bò sát, 69 loài Lưỡng cư. Trong những năm 1970, 1971, 1972 đoàn thực tập thiên nhiên khoa Sinh vật trường Đại học Sư phạm II Hà Nội kết hợp với trường cấp II Tam Đảo đã tiến hành nghiên cứu ở khu vực Tam Đảo đã thống kê được 19 loài Rắn, 3 loài Thằn Lằn, 4 loại Rùa và 5 loại Ếch nhái. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (1985) “Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam, đã thống kê được 350 loài Lưỡng cư, Bò sát, trong đó: Bò sát có 260 loài, Lưỡng cư có 90 loài. Ngoài ra các tác giả còn phân tích sự phân bố các loài ở các sinh cảnh.
Đào Văn Tiến (1978) đã tổng hợp và xây dựng khóa định loại cho 87 loài ếch nhái, 77 loài thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu, trong khóa định loại này tác giả đã đề cập đến 2 loài Cá cóc có phân bổ ở Việt Nam. Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996) thống kê ở Việt Nam có tổng số 340 loài bao gồm 82 loài Ếch nhái và 258 loài bò sát, trong danh lục này đã đề cập đến phân bố, tình trạng của loài Cá cóc tam đảo. Ngoài những công trình nghiên cứu về khu hệ còn những công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của Trần Kiên và cộng sự tập trung nhiều vào nhân nuôi những loài có ý nghĩa kinh tế làm cơ sở xây dựng quy trình nuôi và bảo tồn. Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2002: Đây là giai đoạn nghiên cứu Lưỡng cư, Bò sát ở nước ta được tăng cường.
Đặc biệt nhiều nhất là từ năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 1995 trở lại đây có các tác giả: Đinh Thị Phương Anh, Hổ Thu Cúc, Hoảng Nguyễn Bình, Ngô Đắc Chứng, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường.đưa ra danh sách thành phần ở một số vùng: VQG Bạch Mã có 52 loài Lưỡng cư, Bò sát thuộc 15 họ, 3 bộ, VQG Ba Vì có 62 loài thuộc 16 họ, 3 bộ, vùng núi Ngọc Linh (Kom Tum) có 53 loài thuộc 30 họ, 4 bộ, khu vực Tây Nam Nghệ An có 56 loài thuộc 17 hộ, 3 bộ, Khu BTTN Xuân Sơn (Phú Thọ) có 46 loài thuộc 15 hộ, 3 bộ, khu vực Hữu Liên (Lạng Sơn) có 48 loài thuộc 15 họ, 4 bộ, khu vực núi Yên Tử (Quảng Ninh) có 55 loại thuộc 18 họ, 4 bộ, VQG Bến En (Thanh Hóa) có 85 loài thuộc 21 họ, 4 bộ, khu vực núi Bà Đen (Tây Ninh) có 34 loài thuộc 16 họ, 5 bộ, khu BTTN Sơn Trà (Đà Nẵng) có 34 loài thuộc19 họ, 3 bộ, khu vực núi Kon Ka Kinh (Gia Lai) có 51 loài thuộc 15 họ, 4 bộ, khu vực Chí Linh (Hải Dương) có 87 loài thuộc 20 họ, 4 bộ, khu BTTN Pù Mát (Nghệ An) có 7 loài thuộc 21 họ, 4 bộ, VQG U Minh Thượng (Kiên Giang) có 38 loài thuộc 14 họ, 3 bộ, khu vực đầm Ao Châu (Hạ Hỏa Phú Thọ) có 54 loài thuộc 20 họ, 4 bộ, khu vực A Lưới (Thừa Thiên Huế) có 76 loài thuộc 20 họ, 4 bộ, khu vực rừng Konplông (Kom Tum) có 46 loài thuộc 16 họ, 3 bộ. Lê Nguyên Ngật (2000), nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái học của Cá cóc bụng hoa trong điều kiện nuôi. Nghiên cứu này cho biết có khả năng nuôi sinh sản thảnh công Cá cóc bụng hoa trong phòng thí nghiệm. Như vậy, có thể tiến hành bảo tồn loài cá cóc bằng cả hai hình thức nguyên vị và chuyển vị.
Nguyễn Quảng Trường (2000), đã tiến hành nghiên cứu về phân bổ và đánh giá hiện trạng khai thác loài Cá cóc bụng hoa ở VQG Tam Đảo. Đã khảo sát về phân bố của Cá cóc ở 28 suối của khu vực Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Ninh Lai, Thiện Kế, Hợp Hoả (Tuyên Quang) và Quân Chu (Thái Nguyên). Kết quả nghiên cứu đã phân tích tình hình khai thác, sử dụng loài Cá cóc. Nguyễn Văn Sáng và cs (2005) đã thống kê 458 loài (162 loài Ếch nhái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và 296 loại Bỏ sát trong danh lục Bò sát - Ếch nhái của Việt Nam Danh lục này đã bổ sung thêm khoảng 200 loài so với các danh lục trước đây ở Việt Nam.
Những khám phá mới và ghi nhận bổ sung kết quả của rất nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu trong suốt 25 năm qua (1980 - 2006). Lê Nguyên Ngật (2008) đã có nghiên cứu về phân bố và tình trạng loài Cá cóc tam đảo ở Việt Nam bài báo đã đề cập đến phân bố, tình trạng và giá trị về thẩm mỹ, khoa học, du lịch và thương mại. Danh sách thành phần loài lưỡng cư, bò sát của VQG Xuân Sơn tiếp tục được cập nhật trong công trình của Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trưởng (2009). Theo đó, đã ghi nhận ở VQG Xuân Sơn Lớp Bò sát có 48 loài thuộc 14 họ, 2 bộ và lớp Lưỡng cư có 29 loài thuộc 8 họ, 3 bộ.
Một số tài liệu đã đề cập đến phân bố, tình trạng bảo tồn loài Cá cóc tam đảo là loài nguy cấp, quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); Nghị định 06/2019/NĐ-CP; Danh lục đỏ thế giới IUCN 2020. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái được đề cập trong các tài liệu như: Giáo trình động vật của trường Đại học Lâm nghiệp của Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy (1998), Luận chứng kinh tế kỹ thuật Vườn quốc gia Tam Đảo (1996). Một số nghiên cứu về loài Cá cóc Tam Đảo (Paramesotriton deloustali, Bourret, 1934) (Nguồn: Sách đỏ Việt Nam 2007, trang 260) Đặc điểm nhận biết: Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) là loài có số lượng cá thể nhiều nhất trong 8 loài Cá cóc được tìm thấy ở Việt Nam (Nguyễn Quảng Trường và cs, 2009).