ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam với 2/3 diện tích là vùng đồi núi, đây là nơi sinh sống của hơn 24 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít người mà cuộc sống của họ luôn gắn bó mật thiết với đất đai, rừng núi, đây cũng là nơi hoạt động chủ yếu của ngành lâm nghiệp. Vì vậy, việc xã hội hoá ngành lâm nghiệp không chỉ là một yêu cầu thực tế khách quan của Việt Nam mà nó còn phù hợp với xu thế phát triển nghề rừng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Huyện Hoành Bồ là địa danh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ các khu vực kinh tế trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh. Cùng với các huyện thị khác trong tỉnh, Hoành Bồ đã và đang đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; văn hoá xã hội chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao.
Xã Lê Lợi là một trong 13 xã, thị trấn của huyện Hoành Bồ. Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là diện tích rừng tự nhiên cũng đã dần bị thu hẹp; sự cố môi trường ngày càng tăng (biến đổi khí hậu, lũ lụt, hạn hán, lở đất, cháy rừng.); đời sống sức khoẻ của một bộ phận cộng đồng bị ảnh hưởng. Nguyên nhân chủ yếu là nạn phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng, khai thác rừng bừa bãi và vượt chỉ tiêu cho phép, … ảnh hưởng trực tiếp đến rừng, cùng với đó là áp lực từ sự phát triển kinh tế - xã hội, cuộc sống khó khăn của người dân cũng như những nhà chức trách. Đây là vấn đề mà ngành lâm nghiệp đang trực tiếp phải đối mặt, việc quản lý bảo vệ rừng và các vấn đề phát sinh từ cộng đồng.
Vì vậy trong công tác quản lý bảo vệ rừng đòi hỏi sự vào tham gia của mọi cá nhân, tổ chức và các bên liên quan, đặc biệt là chính quyền và người dân địa phương nhằm thực hiện mục tiêu quản lý rừng đạt hiệu quả cao. Đây cũng là điểm quan trọng giúp cho công tác quản lý bảo vệ rừng hiệu quả cao hơn. Trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý bảo vệ rừng đã có nhiều phương thức tiếp cận khác nhau. Một trong số đó là quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng.
Ở Việt Nam, quản lý rừng cộng đồng là thực tiễn có 1 từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển.Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả quản lý rừng cộng đồng là rất cần thiết, nghiên cứu này làm cơ sở nhằm đúc rút kinh nghiệm cho việc giao rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ rừng bền vững và hiệu quả hơn. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ Đánh giá sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Lê Lợi - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh” nhằm góp phần nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng , hướng tới sự phát triển bền vững của tài nguyên rừng tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Quản lý rừng cộng đồng là thực tiễn có từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển.
Phương thức quản lý rừng này rất sinh động, phong phú mang lại hiệu quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng cao. Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý và sử dụng 2.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%). Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của cả nước (12. Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4%.
Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29%. Cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau: - Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.251,2 ha tương đương 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng. (Theo Nguyễn Bá Ngải, 2009) - Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%. 3 Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng.
(Theo Nguyễn Bá Ngải, 2009) - Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ…) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7 ha tương đương 32,3%. Nếu xét về vùng địa lý, vùng Tây Bắc có tỷ lệ rừng cộng đồng cao nhất với 1.300,9 ha, chiếm 67,8% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý trên cả nước. Tiếp đến là các vùng Đông Bắc 760.131,1 ha, vùng Tây Nguyên 62.422,3 ha và Bắc Trung Bộ 58. Các loại rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều được 3 chủ thể chính quản lý là cộng đồng dân cư thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích.
Đối với rừng do cộng đồng dân cư thôn và dòng tộc quản lý thường ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp. Rừng do nhóm hộ hoặc nhóm sở thích tự cùng nhau liên kết để quản lý thường ở các vùng sản xuất và thị trường phát triển, đang dần tiếp cận đến phương thức sản xuất hàng hóa, trình độ sản xuất của các hộ nông dân cao, khả năng đầu tư lớn. Chính từ cơ sở này mà quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam đang dần hình thành theo 2 xu hướng phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng vùng, đó là quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế và quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hóa. Quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp.
Các sản phẩm từ rừng chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng như gỗ để làm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ. Rừng được quản lý theo truyền thống được quy định trong hương ước của cộng đồng. Nhà nước và địa 4 phương cần có chính sách riêng về quy chế khai thác và sử dụng lâm sản cũng như cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, tổ chức và vốn để cộng đồng có thể quản lý rừng. Khuôn khổ pháp lý và chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng Hiện nay, cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn.
Thực tiễn này đang chỉ ra nhiều hình thái và cách thức cộng đồng tham gia quản lý rừng, trong khi các khía cạnh về mặt pháp lý và chính sách về cơ chế hưởng lợi cho đối tượng cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng đáng được từng bước cải thiện nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Khuôn khổ luật pháp và chính sách của Chính phủ dần được hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển: Bảng 1.1: Tiến trình phát triển chính sách LNCĐ ở Việt Nam (Theo Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Hồng Quân, Ernst Kuester, Vietnam Community Forestry 2005) Giai đoạn Diễn giải về phát triển chính sách Trƣớc năm + Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng Lâm nghiệp thuộc 1954 địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống. Quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống. 1954-1975 + Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống miền Bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã nông - lâm nghiệp).
Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và LNCĐ, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ. Trong khi đó ở miền Nam, giống thời kỳ trước năm 1954. 1976-1985 + Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốc doanh 5 và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp. Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chính phủ chỉ chú ý phát triển 2 thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã).
Lâm nghiệp quốc doanh và lâm nghiệp tập thể phát triển ở quy mô lớn theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung cao độ. LNCĐ và lâm nghiệp hộ gia đình không được khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, một số nơi ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc vẫn tồn tại các khu rừng do cộng đồng tự công nhận nhưng mức độ tự quản dần bị mai một và lỏng lẻo. Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban bí thư năm 1983 về giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình.
1986-1992 + Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối với rừng truyền thống của làng bản.