CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chất lượng dịch vụ ngày càng đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vậy, tiến hành công tác quản trị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm và dịch vụ là một việc làm cấp thiết đối với bất cứ doanh nghiệp nào.[3] Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, lĩnh vực này đã được các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Dưới đây tác giả xin điểm qua những nghiên cứu chính trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu của Luận văn.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp trong các lĩnh vực khác nhau đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu trên thế giới. Trước thập niên 80 có nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề chất lượng dịch vụ như các nghiên cứu của như Cardozo (1965) hay Howard&Seth (1969), Olshavsky&Miller (1972). Các nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ chất lượng hàng hóa với nhiều tiêu chí đo lường chất lượng nghêng về chỉ số kỹ thuật song vẫn chưa kiểm chứng được trên thực tế. Mô hình chất lượng kỹ thuật - chức năng của Gronroos: Gronroos (1984) cho rằng: 3 thành phần tạo nên CLDV của một doanh nghiệp là: chất lượng chức năng, kỹ thuật và hình ảnh.
Gronroos cho rằng ảnh hưởng bởi các hoạt động markeing truyền thống và ảnh hưởng yếu tố bên ngoài tác động sự kỳ vọng của Khách hàng, trong đó yếu tố truyền miệng có tác động tuong đối 5 lớn. Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ được coi là một quá trình tiêu thụ trong đó khách hàng là một phần của quy trình dịch vụ dẫn đến kết quả hoặc kết quả. Cách khách hàng cảm nhận quy trình dịch vụ tại thời điểm dịch vụ quan trọng hơn kết quả của dịch vụ. Sự kỳ vọng và nhận thức của khách hàng với dịch vụ có quan trọng khi khách hàng nghĩ lại xem liệu nhận thức có vượt qua mong đợi hay không (Siu & Cheung 2001, Kang & James, 2004).
Yu-Fen Chen, Chin-Hui Hsiao, WenChing Lee (2005) chỉ ra rằng các yếu tố từ mô hình sự hài lòng có thể giải thích một số lượng lớn các biến về lòng trung thành của sinh viên là 4 nhân tố: sự quản lý, quá trình học thuật, giữa mối quan hệ các cá nhân, cơ sở vật chất. Trong lĩnh vực dịch vụ thẻ ngân hàng, chủ đề sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ cũng có nhiều nghiên cứu được thực hiện (Rahaman và ctv, 2011; Hasan, 2013 ; Mwatsika, 2014; Kumbhar, 2011) Tóm lại, các nghiên cứu trên thường sử dụng các thang đo SERVQUAL, SERVPERF do Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988) và Cronin và Taylor (1992) đề xuất để thực hiện đo lường định lượng sự hài lòng của khách hàng trong các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó hệ số Cronbach Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo và phân tích EFA - nhân tố khám phá cũng được sử dụng phổ biến. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong lĩnh vực du lịch, Nguyễn Văn Minh (2014) đã dùng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo & phương pháp phân tích EFA - nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) để đo lường sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại khu vui chơi giải trí Vinpearl Land Nha Trang.
Trong lĩnh vực dịch vụ thẻ ngân hàng, chủ đề sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ cũng có nhiều nghiên cứu được thực hiện (Hà 6 Nam Khánh Giao, 2011; Huỳnh Thuý Phượng, 2010; Lê Thanh Dững, 2009).[6] Trong lĩnh vực vận tải, Nguyễn Anh Thi (2016) đã đo lường mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách của Công ty Cổ phần Thuận Thảo dùng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố khám phá EFA. Trong lĩnh vực giáo dục một số nghiên cứu cũng đã được thực hiện. Chẳng hạn theo Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Thị Bảo Châu và Phạm Ngọc Giao (2012) chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tơi mức độ hài lòng của học viên đối với chất lượng ngành du lịch là nhân tố Điều kiện của thực tập, Kiến thức về xã hội, Mức độ tương tác với giảng viên và nâng tầm kỹ năng ngoại ngữ.[7] Theo Nguyễn Thành Long (2006) đã có bài nghiên cứu “Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá về chất lượng đào tạo đại học của trường Đại học An Giang”. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào yếu tố Giáo viên, Cơ sở vật chất, sự Tin cậy và độ Cảm thông.[8] Tựu chung lại, các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp đã được thực hiện khá nhiều trên thế giới và trong nước.
Phương pháp sử dụng chủ yếu là dùng hệ số Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, CFA với các kết quả không đồng nhất. Trong đó, chưa có nghiên cứu nào đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại Viện Khoa học An toàn Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là yếu tố nào ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ do Viện cung cấp? Và sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ do Viện cung cấp thời gian qua ra sao? Giải pháp nào nâng cao sự hài lòng cho khách hàng thời gian tới? Nghiên cứu này sẽ tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên. Cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ đào tạo 1.
Khái niệm về dịch vụ Theo quan điểm Marketing, sản phẩm là gồm tất cả những cái (items/devices/things) hay yếu tố (factors/services) có thể thỏa mãn được nhu cầu (needs) với mong muốn (wants) của con người được mang ra buôn bán trên thị trường (market) nhằm mục đích thu hút sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng. 1[9] Sản phẩm bao gồm hàng hóa (goods/tangible products) và dịch vụ (services/intangible products) mà nhà sản xuất có thể cung ra thị trường. Theo quan điểm Marketing, dịch vụ là bất kỳ hành động (deeds), nỗ lực (efforts), sự trình diễn (performances) hay lợi ích nào đó (utility/value) mà 1 bên (nhà cung ứng dịch vụ) có thể mang cho bên khác (khách hàng) về cơ bản là vô hình mà không đem lại sự sở hữu nào. Dịch vụ có 04 tính chất sau: - Tính vô hình (Intangibility): Bất kỳ dịch vụ thuần túy nào cũng không được đánh giá bằng việc sử dụng 1 hay nhiều giác quan nào trước khi nó được bán đi.
Hay, người mua không thể nhìn thấy dịch vụ có hình thù ra sao. Vì vậy, để tăng sự chắc chắn người ta sẽ tìm kiếm nhiều bằng chứng về chất lượng dịch vụ từ những chính đối tượng họ gần, trang thiết bị hỗ trợ cung cấp dịch vụ mà họ nhìn thấy. - Tính không thể tách rời (Inseparability): Đặc tính của dịch vụ là sản xuất và tiêu thụ song song cùng lúc. Nếu một người bất kỳ thuê dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ phải là một phần của dịch vụ, dù bên cung ứng là con người hay cỗ máy.
- Tính hay thay đổi (Variability): Thể hiện qua chất lượng dịch vụ lệ thuộc vào người cung ứng về dịch vụ, thời gian, vị trí và phương thức dịch vụ được cung ứng. 1 Xem Trần Minh Đạo, 2006, Marketing, NXB Thống kê, Trang 22. 8 - Tính dễ bị phá vỡ, không lưu trữ được (Perishability): Dịch vụ không như hàng hóa thông thường vì nó không có khả năng được cất trữ trong kho. Khi nhu cầu thay đổi thì các công ty cung cấp dịch vụ luôn phải tìm cách nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng.
Chẳng hạn như các công ty du lịch lữ hành luôn phải thuê thêm xe du lịch để phục vụ du khách vào mùa cao điểm.[10] Ngoài tính chất trên, dịch vụ còn có thể được mô tả với các thuộc tính chính sau: - Tính không đồng nhất & ổn định về mặt chất lượng: Các doanh nghiệp đa số khó có thể cung ứng dịch vụ với chất lượng hoàn toàn giống nhau. - Không thể hoàn trả dịch vụ: Nếu khách hàng không thỏa mãn, họ có thể hoàn trả sản phẩm hữu hình/hàng hóa nhưng không thể hoàn trả dịch vụ. - Tâm lý: Chất lượng dịch vụ đánh giá qua trạng thái tâm lý khách hàng. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng dịch vụ: Gronroos (1984) đề xuất hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào.[11] Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”.
Trong kinh doanh, chất lượng dịch vụ rất quan trọng, nó có thể tạo nên một lợi thế cạnh tranh, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp với nhau.[10] Theo ISO 8402, chất lượng dịch vụ là “tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn của khách hàng”.[12] Từ đó, có thể hiểu chất lượng dịch vụ 9 được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Sự thỏa mãn là cảm giác của khách hàng ở trạng thái có được bắt nguồn từ việc so sánh giữa lợi ích do dùng dịch vụ mang lại và sự mong đợi/kỳ vọng của họ. 2 Nếu lợi ích mang lại cao hơn chất lượng mong đợi thì dịch vụ được xem là có chất lượng. Nếu khách hàng càng thỏa mãn thì chất lượng dịch vụ càng tăng và ngược lại.
Phân loại dịch vụ theo WTO Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (World Trade Organization) tiền thân của GATT (General Agreement on Tariff and Trade) đã phân loại thành 12 ngành dịch vụ chính dưới đây: 1. Các dịch vụ kinh doanh: dịch vụ kinh doanh bất động sản, đại lý hưởng hoa hồng, môi giới, liên quan đến chuyên môn như luật sư, tư vấn. Các dịch vụ truyền thông: viễn thông, phát thanh truyền hình, đưa thư mailling. Các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình: kỹ sư công trình xây dựng cao ốc, nhà dân dụng, thiết kế nhà cửa, hoàn thiện công trình v.
Các dịch vụ phân phối: dịch vụ bán buôn, bán lẻ, bán hàng đa cấp v.