Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ phân phối sản phẩm Gas (LPG) của Công Ty TNHH Trường Đạt Chương 5: Đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ phân phối sản phẩm Gas (LPG) 5 Luan van CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về ngành gas (LPG) 2.1 Khái niệm LPG Khí hoá lỏng (Liquefied Petroleum Gas – LPG) trong thực tế là các nhóm khí gốc Hydrocarbon C3 và C4 như propane, butane, propylene, butylene và các đồng phân của các hợp chất C4. Những thành phần này có thể hóa lỏng dưới áp suất tung bình. LPG không màu, khối lượng riêng ở thể lỏng bằng khoảng 1/2 khối lượng riêng của nước. Các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm: Thành phần hơi LPG nặng hơn không khí: hơi butane nặng khoảng gấp 2 và hơi propane nặng khoảng gấp 1,5 lần không khí.
Do vậy, khi rò rỉ ra ngoài hơi này có thể bay là là trên mặt đất và đi vào các đường ống thoát nước, tụ lại ở các điểm thấp nhất của không gian xung quanh và có thể bắt cháy ở điểm cách xa nguồn rò rỉ. Trong không khí tĩnh, hơi LPG sẽ khuyếch tán rất chậm. Khi hơi LPG được trộn với không khí có thể tạo thành hỗn hợp nổ; Giới hạn nổ ở nhiệt độ và áp suất môi trường nằm trong khoảng 2% tới 10% thể tích. Ngoài giới hạn này, hỗn hợp với bất kỳ tỷ lệ nào cũng quá nghèo (loãng) hoặc quá giàu (đậm đặc) để có thể cháy nổ.
Tuy nhiên hỗn hợp quá giàu có thể trở nên nguy hiểm khi bị làm loãng đi bằng không khí. Cần chú ý rằng tại áp suất lớn hơn áp suất khí quyển, giới hạn trên của tính nổ tăng lên. Một lượng nhỏ LPG lỏng khi rò rỉ ra không khí có thể sinh ra hỗn hợp hơi/không khí rất lớn (xấp xỉ 270 lần thể tích) và do vậy gây ra nguy hiểm đáng kể. Dùng máy dò Gas detector để kiểm tra nồng độ LPG trong không khí.
Hơi LPG có tính gây mê nhẹ và có thể gây ra ngạt thở nếu ở nồng độ đủ lớn. LPG được tạo mùi trước khi được phân phối bằng cách pha một chất tạo mùi như ethyl mertcaptan hoặc dimethyll sulphide, có thể ngửi thấy ở nồng độ hơi LPG trong không khí thấp khoảng 1/5 giới hạn nổ dưới (tức bằng khoảng 0. hơi LPG trong không khí). Sự rò rỉ LPG có thể được phát hiện bằng mắt.
Khi LPG lỏng bay hơi phải lấy nhiệt ở xung quanh tạo thành một lớp giống như sương mù do ngưng tụ hơi nước trong không khí. Hiệu ứng này có thể được phát hiện bằng lớp có thể gây ra “bỏng lạnh” nặng khi tiếp xúc với da. Cần phải mang các trang bị bảo hộ như bao tay và kính bảo hộ nếu phải làm việc trong điều kiện có thể tiếp xúc trực tiếp. Một bình chứa LPG dù đã “hết” vẫn 6 Luan van có thể chứa hơi LPG ở áp suất từ 3- 4 at và vẫn là một vật có khả năng gây nguy hiểm.
Trong trường hợp này áp suất bên trong bình Gas lớn hơn áp suất khí quyển và nếu một van bị rò rỉ hoặc được mở, không khí có thể thâm nhập vào bình tạo ra hỗn hợp nổ và làm tăng nguy cơ nổ hoặc ngược lại, LPG có thể thoát ra ngoài không khí, tuyết tại điểm rò khí và do vậy việc phát hiện rò LPG dễ dàng hơn. Do tính dễ bay hơi, và giảm nhiệt độ nhanh nên LPG, đặc biệt ở dạng lỏng.1: Chỉ tiêu chất lƣợng của LPG Mức chất Đơn vị Phƣơng pháp STT Tên chỉ tiêu chất lƣợng lƣợng tính thử đăng ký 1 Áp suất hơi bão hòa 37,8 0C Psi 80-120 ASTM D-1267 2 Độ ăn mòn lá đồng Số 1 ASTM D-1838 3 Cặn sau khi hóa hơi %Vol 0,05 Max ASTM D- 2158 0 4 Nhiệt độ hóa hơi 95% thể tích C 2,2 Max ASTM D- 1837 5 Hàm lượng lưu huỳnh trước 0,343Max ASTM D- 2784 khi bỏ mùi ở 15,60C 6 Pentan và các chất nặng %vol 2,0 Max ASTM D -2163 7 Nước Không 8 Nhiệt trị cao Kcal/Kg 12,248 9 Nhiệt trị thấp Kcal/Kg 11,243 * Các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm - Các đặc tính kỹ thuật của Propan + Áp suất hơi: 13,8 bar ở 37,7oC ( 200PSIG ở 100oF) + Hàm lượng Etan: tối đa là 2% thể tích. + Hàm lượng Butan: tối đa là 2% thể tích. + Hàm lượng Propan: tối đa là 96% thể tích.
- Các đặc tính kỹ thuật của Butan + Áp suất hơi: 4,83 bar ở 37,7oC (70PSIG ở 100oF) + Hàm lượng Propan: tối đa là 2% thể tích. + Hàm lượng Butan: tối đa là 96% thể tích. + Pentan Plus (C5+): tối đa là 2% thể tích.2 Phân loại LPG Theo số liệu của những nhà kinh doanh LPG, nhu cầu và mục đích tiêu thụ LPG Việt Nam cơ bản chia thành hai nhóm sau: - Dân dụng: là các hộ gia đình sử dụng LPG làm nhiên liệu, chất đốt trong sinh hoạt theo hình thức sử dụng bình gas 12 kg; 12,5 kg. - Các hộ tiêu thụ công nghiệp: là các nhà máy sử dụng LPG làm nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất như các nhà máy sản xuất gốm, sứ, thủy tinh, gạch men,.
và các đơn vị sử dụng LPG làm nhiên liệu để chế biến thực phẩm, nông sản, thủy sản,. đây cũng là một nguồn tiêu thu LPG quan trọng ở Việt Nam (Bình: 39 kg; 45 kg; 50 kg). Khái niệm sản phẩm Theo C.Mác: Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để phục vụ cho việc làm thỏa mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị trường, người ta quan niệm sản phẩm là bất cứ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại lợi nhuận.
Theo TCVN 5814: Sản phẩm là "Kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình" (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng- Thuật ngữ và định nghĩa - TCVN 6814- 1994). Có nhiều cách phân loại sản phẩm theo những quan điểm khác nhau. Một trong cách phân loại phổ biến là người ta chia sản phẩm thành hai nhóm lớn: - Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang đặc tính lý hóa nhất định. - Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: đó là các dịch vụ.
Dịch vụ là "Kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng". Chất lƣợng sản phẩm Khái niệm về chất lượng sản phẩm Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều các thuật ngữ "Chất lượng", " Chất lượng sản phẩm", "Chất lượng cao",.Mỗi quan niệm điều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện. Để hiểu rõ khái niệm chất lượng 8 Luan van sản phẩm trước tiên ta phải làm rõ khái niệm "Chất lượng", có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng do các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (EOQC) thì " Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng" Theo tiêu chuẩn của Australia (AS1057 – 1985) thì "Chất lượng là sự phù hợp với mục đích".
Từ tổ chức hóa tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO đã ra định nghĩa ISO 9000- 1994 (TCVN 5814- 1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp nhận định nghĩa này: " Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn tiềm ẩn". Qua các định nghĩa trên ta có thể nêu ra 03 điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm hàng hóa sau đây: - Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm. - Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và phong tục. - Chất lượng sản phẩm phải được sử dụng trong tiêu dùng và cần xem xét sản phẩm thỏa mãn tới mức nào của người tiêu dùng.
Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Là một “Sản phẩm đặt biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hình hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính vì vậy, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về dịch vụ.Bitner ( 2000) thì “ Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Chất lượng dịch vụ là một trong yếu tố quyết định tính hiệu quả của dịch vụ cũng như việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc gia. Chất lượng dịch vụ được đánh giá vào văn hóa, lĩnh vực, ngành nghề nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường nghiên 9 Luan van cứu mà việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện nâng cao chất lượng dịch vụ của một công ty. Trong lịch sử phát triển nhiều nhà cung cấp dịch vụ đã tìm thấy sự khác biệt của chính mình với các đối thủ và duy trì khách hàng của mình thông qua việc thực hiện chất lượng tuyệt hảo.
Chất lượng dịch vụ đã trở thành một công cụ Marketing chính để phân biệt với các đối thủ cạnh tranh và thúc đẩy lòng trung thành của khách hàng. Khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã sử dụng. Chính vì vậy, các định nghĩa về chất lượng dịch vụ thường mang tính chủ quan, chủ yếu dựa vào thái độ, cảm nhận và khả năng hiểu biết của người sử dụng dịch vụ. Dưới đây là một số khái niệm về chất lượng dịch vụ được nhiều soạn giả sử dụng: Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu.