Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh thế kỷ XXI chứng kiến sự bùng nổ của công nghệ thông tin và thương mại điện tử, ngành ngân hàng Việt Nam được xác định là một trong những lĩnh vực tiên phong ứng dụng giao dịch điện tử. Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO ngày 11/1/2007, áp lực hội nhập buộc các ngân hàng thương mại trong nước phải hiện đại hóa, đầu tư mạnh vào công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) – Chi nhánh Đà Nẵng – Phòng giao dịch Hòa Thọ (sau đây gọi tắt là MB PGD Hòa Thọ) cũng theo xu hướng đó, song thực tiễn cho thấy số lượng khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐt) tại đơn vị còn hạn chế và tần suất giao dịch vẫn ở mức thấp. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng để có cơ sở đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định theo ba cấp độ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ NHĐt tại MB PGD Hòa Thọ trong giai đoạn 2020–2022; chỉ ra kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ NHĐt tại MB PGD Hòa Thọ đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu tập trung vào ba nhóm vấn đề: (i) đặc điểm và tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ NHĐt của ngân hàng thương mại; (ii) thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng tại MB PGD Hòa Thọ giai đoạn 2020–2022; (iii) các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sự hài lòng trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu là sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ NHĐt tại MB PGD Hòa Thọ; khách thể nghiên cứu là các cá nhân đã và đang sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại đơn vị này.

Phạm vi không gian: MB – Chi nhánh Đà Nẵng – Phòng giao dịch Hòa Thọ. Phạm vi thời gian: dữ liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2020–2022; dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 12/2023; nghiên cứu thực hiện từ tháng 10/2023 đến tháng 1/2024.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình

Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận dựa trên hệ thống khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking/E-banking) theo định nghĩa của Luật Giao dịch điện tử Việt Nam, cùng với các lý thuyết về chất lượng dịch vụ của Lehtinen (1982), Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1988), Edvardsson, Thomsson và Ovretveit (1994), và lý thuyết sự hài lòng của Kotler & Keller (2006).

Tác giả tổng quan và đối chiếu năm mô hình lý thuyết chính:

Mô hình Tác giả Nhân tố đo lường chính
SERVQUAL (5 khoảng cách) Parasuraman & cộng sự, 1988 Tin cậy, Đáp ứng, Đảm bảo, Đồng cảm, Hữu hình
SERVPERF Cronin & Taylor, 1992 5 nhân tố tương tự SERVQUAL, chỉ đo cảm nhận
Teboul Teboul, 1991 Phần giao nhau giữa khả năng doanh nghiệp và kỳ vọng khách hàng
FTSQ (Gronroos) Gronroos, 1984 Chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, hình ảnh doanh nghiệp
BANKSERV Avkiran, 1994 Đáp ứng, đồng cảm, nhân viên phục vụ, tiếp cận, tin cậy, thông tin

Ngoài các mô hình quốc tế, tác giả tổng quan ba nghiên cứu trong nước: Đỗ Tiến Hòa (2007) nghiên cứu tại HSBC TP.HCM với 6 nhân tố; Nguyễn Lâm Hoàng Yến (2013) nghiên cứu Internet Banking tại ACB Đà Nẵng áp dụng SERVPERF; Nguyễn Hoàng Hà (2016) nghiên cứu tại VietinBank Gia Lai áp dụng SERVQUAL.

Từ đúc rút các công trình, tác giả lựa chọn mô hình SERVPERF làm nền tảng và đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập tác động đến sự hài lòng của khách hàng:

(1) Mức độ tin cậy → (2) Mức độ đáp ứng → (3) Năng lực phục vụ → (4) Mức độ đồng cảm → (5) Phương tiện hữu hình → Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ NHĐt

Các giả thuyết H1 đến H5 đều kỳ vọng chiều tác động dương (+).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:

  • Nghiên cứu định tính sơ bộ: thảo luận nhóm (n = 10) để điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi chính thức theo thang đo Likert 5 mức độ.
  • Nghiên cứu định lượng chính thức: phát 150 phiếu khảo sát; sau làm sạch dữ liệu thu được 101 phiếu hợp lệ (n = 101) để phân tích. Cỡ mẫu xác định theo công thức của Hair và cộng sự (1998) — N ≥ 5 × 27 = 135 cho EFA — và Tabachnick và cộng sự (1996) — N > 8 × 5 + 50 = 90 cho hồi quy. Mẫu sử dụng phương pháp lấy mẫu phi xác suất.

Phần mềm phân tích: SPSS 22 và Excel. Các kỹ thuật xử lý dữ liệu sơ cấp bao gồm: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến, kiểm định Independent Sample T-test và One-Way ANOVA.

Nguồn dữ liệu thứ cấp: báo cáo thường niên các năm 2020–2022 của MB PGD Hòa Thọ, báo cáo kết quả đăng ký dịch vụ, tình hình hoạt động NHĐt; bổ sung từ tài liệu, giáo trình, luận văn, tạp chí và internet.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 – Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ nền tảng lý luận phục vụ nghiên cứu. Tác giả làm rõ định nghĩa và đặc điểm của dịch vụ NHĐt theo Luật Giao dịch điện tử Việt Nam, phân biệt E-banking với Internet Banking (Internet Banking là một bộ phận của E-banking, còn E-banking còn bao hàm thêm giao dịch qua fax, điện thoại, email). Chương này liệt kê đầy đủ các hình thức dịch vụ NHĐt tại ngân hàng thương mại gồm: thẻ ngân hàng (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán quốc tế, thẻ liên kết), Home Banking, Kiosk Banking, Phone Banking, Call Center, Mobile Banking và Internet Banking.

Về chất lượng dịch vụ NHĐt, tác giả tổng hợp các quan điểm từ Lehtinen (1982), Gronroos (1984) đến Parasuraman và cộng sự (1988) — định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng và nhận thức của khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ NHĐt được nhận diện gồm: quy mô cung ứng (danh mục sản phẩm, số lượng khách hàng, tần suất giao dịch, doanh thu phí), sự thỏa mãn của khách hàng, cơ sở vật chất (ATM/POS), và vấn đề bảo mật – an toàn. Tác giả cũng phân tích hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ NHĐt: nhóm môi trường bên ngoài (môi trường kinh tế, khoa học – kỹ thuật công nghệ, pháp lý) và nhóm môi trường bên trong (vốn tự có, trình độ công nghệ, nhân lực, khả năng cung ứng, năng lực phục vụ, sự đồng cảm, tính tin cậy).

Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng được luận giải theo quan điểm của Cronin & Taylor (1992) và Wilson và cộng sự (2008): chất lượng dịch vụ là yếu tố cấu thành và quyết định sự hài lòng, song sự hài lòng còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng sản phẩm, giá cả, yếu tố ngoại cảnh và yếu tố cá nhân.

Chương 2 – Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại MB PGD Hòa Thọ

Chương 2 là phần trọng tâm của nghiên cứu, gồm ba nội dung chính.

Tổng quan về MB PGD Hòa Thọ: Tác giả giới thiệu lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của đơn vị. Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2020–2022 được tổng hợp qua các bảng số liệu về tình hình lao động (Bảng 2.1), huy động vốn (Bảng 2.2), cho vay (Bảng 2.3) và kết quả hoạt động kinh doanh (Bảng 2.4).

Thực trạng chất lượng dịch vụ NHĐt: Tác giả phân tích quy mô cung ứng theo từng nhóm dịch vụ:

Dịch vụ Nguồn số liệu
Phát hành thẻ Bảng 2.5, 2.6
ATM Bảng 2.7
POS Bảng 2.8
Internet Banking/Mobile Banking (IBMB) Bảng 2.9
BSMS (Banking SMS) Bảng 2.10
Smart Banking Bảng 2.12

Ngoài ra, chương này khảo sát hạn mức và biểu phí dịch vụ (Bảng 2.11), so sánh tiện ích các dịch vụ NHĐt (Bảng 2.13), thủ tục và thời gian thực hiện (Bảng 2.14), tình hình nhân sự cung cấp và đảm bảo chất lượng NHĐt (Bảng 2.15), cơ sở vật chất (Bảng 2.16), và tình hình hỗ trợ giải quyết khiếu nại (Bảng 2.17).

Phân tích định lượng: Mẫu khảo sát gồm 101 khách hàng hợp lệ, được mô tả theo đặc điểm nhân khẩu học (Bảng 2.18), nguồn thông tin biết đến MB PGD Hòa Thọ (Bảng 2.19), lý do (Bảng 2.20) và mục đích sử dụng dịch vụ NHĐt (Bảng 2.21).

Các bước kiểm định lần lượt gồm:

  • Kiểm định Cronbach's Alpha (Bảng 2.22): đánh giá độ tin cậy thang đo cho tất cả các nhân tố trong mô hình.
  • Kiểm định KMO và Bartlett (Bảng 2.23) và phân tích phương sai trích (Bảng 2.24): kiểm tra điều kiện thực hiện EFA.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập (Bảng 2.25) và biến phụ thuộc (Bảng 2.26): xác nhận cấu trúc nhân tố.
  • Phân tích tương quan Pearson (Bảng 2.27): kiểm tra mối quan hệ tuyến tính giữa các biến.
  • Phân tích hồi quy đa biến (Bảng 2.28, 2.29, 2.30): kiểm định các giả thuyết H1–H5 và xác định trọng số tác động của từng nhân tố đến sự hài lòng.
  • Kiểm định sự khác biệt theo đặc điểm nhân khẩu học: T-test theo giới tính (Bảng 2.31); ANOVA và kiểm định LSD theo nhóm tuổi (Bảng 2.32–2.34); ANOVA theo trình độ học vấn (Bảng 2.35–2.36); kiểm định Welch theo nghề nghiệp (Bảng 2.37–2.38); ANOVA theo thu nhập (Bảng 2.39–2.40).

Chương 3 – Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại MB PGD Hòa Thọ

Chương 3 trình bày định hướng phát triển dịch vụ NHĐt của MB PGD Hòa Thọ và đề xuất giải pháp gắn với từng nhân tố đã được xác định qua phân tích định lượng:

  • Giải pháp nâng cao "Mức độ tin cậy": đảm bảo thực hiện dịch vụ đúng cam kết, xử lý lỗi kỹ thuật nhanh chóng, xây dựng quy trình minh bạch.
  • Giải pháp nâng cao "Khả năng đáp ứng": rút ngắn thời gian xử lý yêu cầu, mở rộng khung giờ hỗ trợ khách hàng, tăng cường tính sẵn sàng của hệ thống.
  • Giải pháp nâng cao "Năng lực phục vụ": đào tạo chuyên môn và kỹ năng tư vấn cho đội ngũ nhân viên; cải thiện thái độ phục vụ.
  • Giải pháp nâng cao "Mức độ đồng cảm": thiết kế dịch vụ thân thiện với người dùng, đặc biệt những khách hàng ít am hiểu công nghệ; tăng cường chăm sóc khách hàng cá nhân hóa.
  • Giải pháp nâng cao "Phương tiện hữu hình": đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, cải tiến giao diện ứng dụng và hệ thống bảo mật.

Phần kết luận và kiến nghị bao gồm kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước, đối với Ngân hàng TMCP Quân Đội ở cấp hội sở, và đối với MB Chi nhánh Đà Nẵng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Qua phân tích 101 phiếu khảo sát hợp lệ bằng SPSS 22, nghiên cứu xác nhận mô hình SERVPERF gồm 5 nhân tố — Mức độ tin cậy, Mức độ đáp ứng, Năng lực phục vụ, Mức độ đồng cảm, Phương tiện hữu hình — đều có tác động dương đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ NHĐt tại MB PGD Hòa Thọ (các giả thuyết H1–H5 được chấp nhận). Kết quả kiểm định sự khác biệt (T-test và ANOVA) cho thấy có sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa các nhóm khách hàng theo các đặc điểm nhân khẩu học được kiểm định (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập).

Về dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu mô tả tình hình hoạt động kinh doanh của MB PGD Hòa Thọ giai đoạn 2020–2022 qua hệ thống 17 bảng số liệu thứ cấp chi tiết về từng nhóm dịch vụ (thẻ, ATM, POS, IBMB, BSMS, Smart Banking), nhân sự và cơ sở vật chất phục vụ dịch vụ NHĐt.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

Năm nhóm giải pháp tương ứng với năm nhân tố trong mô hình được đề xuất với tầm nhìn đến năm 2030. Kiến nghị được phân cấp theo ba cấp độ: Ngân hàng Nhà nước, hội sở MB và MB Chi nhánh Đà Nẵng, nhằm tạo môi trường chính sách và nguồn lực phù hợp để triển khai giải pháp.

Đóng góp của nghiên cứu

So với các nghiên cứu trong nước được tổng quan (Đỗ Tiến Hòa, 2007; Nguyễn Lâm Hoàng Yến, 2013; Nguyễn Hoàng Hà, 2016), nghiên cứu này tập trung vào đối tượng cụ thể là khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ NHĐt tại một phòng giao dịch ngân hàng quân đội ở khu vực Đà Nẵng — một phân khúc chưa được nghiên cứu riêng biệt trong các công trình được tổng quan. Việc lựa chọn SERVPERF thay vì SERVQUAL cũng được tác giả lập luận là phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu, tránh được sự nhầm lẫn khi khách hàng đánh giá song song kỳ vọng và cảm nhận.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong Phần III, song không nêu cụ thể các hạn chế chi tiết. Dựa trên phạm vi nghiên cứu, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại: mẫu khảo sát chỉ đạt 101 phiếu hợp lệ từ 150 phiếu phát ra tại một phòng giao dịch duy nhất, nên khả năng khái quát hóa kết quả sang toàn bộ hệ thống MB hoặc các ngân hàng TMCP khác còn hạn chế. Phương pháp lấy mẫu phi xác suất cũng có thể ảnh hưởng đến tính đại diện. Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp chỉ kéo dài đến năm 2022 trong khi khảo sát thực hiện cuối năm 2023, tạo ra độ trễ về mặt thời gian.

Tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo là mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các chi nhánh khác của MB hoặc so sánh đa ngân hàng, đồng thời cập nhật dữ liệu theo giai đoạn mới hơn để đánh giá xu hướng thay đổi trong hành vi và mức độ hài lòng của khách hàng.


Giá trị tham khảo

Khóa luận này phù hợp để tham khảo cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Quản trị kinh doanh và Marketing tại các trường đại học kinh tế có thể tham khảo quy trình nghiên cứu định lượng 6 bước, cách xây dựng thang đo Likert dựa trên SERVPERF, và cách trình bày kết quả kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy đa biến bằng SPSS.
  • Sinh viên thực hiện đề tài về dịch vụ ngân hàng điện tử có thể tham khảo phần Chương 1 (đặc biệt là bảng so sánh SERVQUAL và SERVPERF, Bảng 1.1; bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan, Bảng 1.2) và phần đề xuất mô hình nghiên cứu.
  • Người làm đề tài về sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng có thể tham khảo cách đối chiếu kết quả kiểm định sự khác biệt theo từng nhóm nhân khẩu học (T-test, ANOVA, Welch) và cách xây dựng giải pháp gắn với từng nhân tố trong mô hình.
  • Đặc biệt đáng tham khảo là phần Chương 2 mục 2.3 về quy trình phân tích định lượng đầy đủ từ mô tả mẫu, kiểm định thang đo đến kiểm định mô hình hồi quy và phân tích sự khác biệt — là ví dụ tham chiếu thực hành hữu ích cho các khóa luận sử dụng phương pháp tương tự.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng bao nhiêu nhân tố và đó là những nhân tố nào trong mô hình đề xuất? Mô hình đề xuất gồm 5 nhân tố độc lập: (1) Mức độ tin cậy, (2) Mức độ đáp ứng, (3) Năng lực phục vụ, (4) Mức độ đồng cảm, (5) Phương tiện hữu hình — tất cả đều kỳ vọng có tác động dương đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ NHĐt tại MB PGD Hòa Thọ. Mô hình được xây dựng dựa trên SERVPERF của Cronin và Taylor (1992) kết hợp đúc rút từ 7 công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước.

2. Cỡ mẫu hợp lệ cuối cùng để phân tích là bao nhiêu và cách xác định cỡ mẫu được thực hiện như thế nào? Từ 150 phiếu phát ra, sau khi làm sạch dữ liệu còn 101 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích. Cỡ mẫu được xác định theo hai tiêu chí: theo Hair và cộng sự (1998) cho EFA — N ≥ 5 × 27 = 135; theo Tabachnick và cộng sự (1996) cho hồi quy — N > 8 × 5 + 50 = 90. Tác giả áp dụng theo hướng của Nguyễn Đình Thọ (2011) và lấy mức tối thiểu 90 mẫu; 101 phiếu hợp lệ đáp ứng yêu cầu này.

3. Tại sao tác giả chọn mô hình SERVPERF thay vì SERVQUAL để xây dựng mô hình nghiên cứu? Tác giả lý giải rằng thang đo SERVQUAL gồm hai phần (kỳ vọng và cảm nhận) với 44 câu hỏi, tốn thời gian và dễ gây nhầm lẫn cho người trả lời giữa sự hài lòng và thái độ. Mô hình SERVPERF chỉ đo lường mức độ cảm nhận với 22 câu hỏi (bằng SERVQUAL nhưng bỏ phần kỳ vọng), ngắn gọn và thuận tiện hơn, đồng thời theo Cronin và Taylor (1992) phản ánh chất lượng dịch vụ tốt nhất thông qua chất lượng cảm nhận. Bảng 1.1 trong khóa luận trình bày chi tiết so sánh ưu, nhược điểm của hai mô hình này.

4. Dữ liệu thứ cấp về hoạt động dịch vụ NHĐt của MB PGD Hòa Thọ bao gồm những nhóm nào và lấy từ đâu? Dữ liệu thứ cấp lấy từ báo cáo thường niên và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020–2022 của MB PGD Hòa Thọ, bao gồm 13 nhóm dữ liệu: tình hình phát hành thẻ, doanh số phát hành thẻ, hoạt động kinh doanh ATM, hoạt động POS, dịch vụ IBMB (Internet Banking/Mobile Banking), dịch vụ BSMS, hạn mức và biểu phí, Smart Banking, so sánh tiện ích các dịch vụ NHĐt, thủ tục và thời gian thực hiện, tình hình nhân sự, cơ sở vật chất, và tình hình hỗ trợ giải quyết khiếu nại.

5. Nghiên cứu kiểm định sự khác biệt về sự hài lòng của khách hàng theo những đặc điểm nhân khẩu học nào và bằng phương pháp gì? Nghiên cứu kiểm định theo 4 đặc điểm: (i) giới tính — dùng Independent Sample T-test (Bảng 2.31); (ii) nhóm tuổi — dùng ANOVA và kiểm định LSD để so sánh sự khác biệt giữa từng cặp nhóm (Bảng 2.32–2.34); (iii) trình độ học vấn — dùng ANOVA (Bảng 2.35–2.36); (iv) nghề nghiệp — dùng kiểm định Welch do vi phạm giả định đồng nhất phương sai (Bảng 2.37–2.38); (v) thu nhập — dùng ANOVA (Bảng 2.39–2.40). Trước mỗi kiểm định ANOVA đều thực hiện kiểm định sự đồng nhất phương sai (Levene test).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh của sinh viên Trần Thị Mỹ Lành (Đại học Kinh tế – Đại học Huế, 2024) nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại MB – Chi nhánh Đà Nẵng – Phòng giao dịch Hòa Thọ, dựa trên mô hình SERVPERF với 5 nhân tố và 101 phiếu khảo sát hợp lệ được phân tích bằng SPSS 22. Nghiên cứu kết hợp dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2020–2022 với khảo sát định lượng thực hiện cuối năm 2023 để phản ánh toàn diện thực trạng và xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng. Trên cơ sở kết quả phân tích, tác giả đề xuất năm nhóm giải pháp gắn với từng nhân tố trong mô hình và kiến nghị phân cấp đến Ngân hàng Nhà nước, hội sở MB và MB Chi nhánh Đà Nẵng, hướng tới mục tiêu nâng cao sự hài lòng khách hàng đến năm 2030.