ĐẶT VẤN ĐỀ Nếu nhƣ trong hệ thống phân loại các loài sinh vật có 5 giới, hai giới khởi sinh (Monera) và nguyên sinh (Protista) là hai giới có độ tiến hóa thấp nhất thì 2 giới thực vật (Plantae) và động vật (Animalia) là hai giới tiến hóa nhất. Và để chuyển hóa giữa 2 cấp bậc tiến hóa đó trong thang bậc tiến hóa đó chính là giới nấm (Fungi). Với vai trò nối tiếp và chuyển hóa trong quá trình tiến hóa của sinh vật theo 2 hƣớng là thực vật và động vật nhƣ vậy đủ thấy nấm có vai trò vô cùng quan trọng trong tiến hóa. Đối với trong cuộc sống đời thƣờng với đặc điểm là những sinh vật nhân thực, đơn bào hay đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn có thành tế bào chứa chitin, không có lục lạp.
Phƣơng thức sinh sống: dị dƣỡng (hoại sinh hoặc kí sinh). Đại diện: Nấm men, Nấm sợi, Nấm đảm và Địa y. Cùng với sự đa dạng về thành phần loài, cũng nhƣ nơi sống thì nấm phân bố trên toàn thế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trƣờng sống khác nhau, kể cả sa mạc. Đa phần nấm sống trên cạn nhƣng một số loài chỉ tìm thấy ở dƣới nƣớc.
Nấm và vi khuẩn là những loài sinh vật phân hủy chính có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái trên cạn trên toàn thế giới. Dựa theo tỉ lệ giữa số loài nấm với số loài thực vật trên cùng một môi trƣờng, ngƣời ta ƣớc tính giới nấm có khoảng 1,5 triệu loài.000 loài nấm đã đƣợc các nhà phân loại học phát hiện và miêu tả. Tuy nhiên, kích cỡ thật sự của giới nấm đang còn là một ẩn số bí ẩn. Cho đến những năm gần đây, nhiều loài nấm đã đƣợc miêu tả dựa trên những đặc điểm hình thái, nhƣ kích cỡ và hình dạng các bào tử hay thể quả dựa trên khái niệm loài sinh vật với sự trợ giúp của các công cụ phân tử nhƣ phƣơng pháp Dideoxy, đã gia tăng mạnh cách thức và khả năng ƣớc tính sự đa dạng của nấm trong phạm vi các nhóm phân loại khác nhau.
Chính vì sự đa dạng của nấm nhƣ vậy dẫn đến chúng đóng những vai trò hết sức quan trọng trong sinh giới cũng nhƣ cuộc sống con ngƣời. Chúng là nhân tố phân hủy các vật chất hữu cơ và không thể thiếu đƣợc trong các chu trình chuyển hóa vật chất. Ngoài ra, trong đời sống nó còn đóng một vai trò rất quan trọng đó là đƣợc dùng để làm thức ăn hoặc trong quá trình lên men và làm 1 thuốc bởi trong chúng có chứa các chất đứa điều chế kháng sinh, hoóc môn trong y học và nhiều loại enzym. Tuy nhiên, trong nấm có chứa 1 số chất mẫn cảm với con ngƣời nhƣ mycotoxin, ancaloit, polyketit nên một số loại nấm đƣợc dùng để kích thích tác động lên trí tuệ và hành vi của con ngƣời.
Một số loại nấm có thể gây bệnh cho con ngƣời,động vật cũng nhƣ bệnh dịch cho cây trồng gây hại mùa màng và có thể gây tác động lớn lên an ninh lƣơng thực và kinh tế. Từ đó qua điều tra tham khảo tại khu vực nghiên cứu, thấy rằng nơi đây chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học các loài nấm. Vì vậy tôi thực hiện đề tài “Đánh giá sự đa dạng sinh học các loài nấm và đề xuất các giải pháp quản lý chúng tại rừng thực nghiệm núi Luốt – Trường Đại Học Lâm Nghiệp. Nhằm bổ sung thông tin về các loài nấm nơi đây, về đặc điểm hình thái, sự phát triển của nấm theo thời gian trong năm, vị trí gây bệnh trên cây chủ… làm cơ sở quản lý các loài nấm.
2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế Giới Là một giới riêng biệt trong thang bậc phân loại, tuy nhiên so với 2 giới là động vật và thực vật thì các công trình nghiên cứu về nấm đang còn rất hạn chế. Trong cuộc sống hiện tại, không phủ nhận đƣợc lợi ích vô cùng to lớn và tiềm ẩn của nấm. Vì thế, mà các công trình, đề tài nghiên cứu về nấm ngày càng nhiều.
Trên thế giới, nấm là một đối tƣợng đƣợc rất nhiều nƣớc quan tâm và phát triển chúng điển hình nhƣ Trung Quốc nổi tiếng với sản phẩm là Đông trùng hạ thảo, hay các công trình khác nghiên cứu về các loài nấm dƣợc liệu nhƣ về nấm linh chi xanh gồm có rất nhiều những công trình nghiên cứu nhƣ: Nghiên cứu Chem Pharm Bull (Nhật Bản) tháng 7 năm 2000 nghiên cứu về nấm lim xanh. Nghiên cứu Enzyme Microb Technol (Trung Quốc) tháng 8 năm 2000 cũng nghiên cứu về nấm chữa bệnh lim xanh. Rồi cho đến việc phát triển trồng các loài nấm ăn ở các nƣớc nhƣ Thái Lan với loài nấm rơm, nấm khuy trắng, nấm bào ngƣ, nấm Yanagi matsutake. Hàn Quốc với nấm linh chi.
Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Kirk P. biên soạn trong cuốn "Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidio-mycota).
Theo Maogang (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ. Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau nhƣ Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra. Trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép đƣợc 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mƣa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B.
Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác 3 nhau nhƣ trên gỗ, trên cây sống, trên đất.Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326 loài nấm Lớn tại vƣờn Asveja Regional (Lithuania). Năm 2013 Roy Halling, vƣờn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái lan. Nhà nấm học Nhật Bản, tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ Polyporales) ở Thái Lan và một số nƣớc khác nhƣ Côngô, Nam Phi và Đài Loan. Đặc biệt, những năm gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở các nƣớc nhiệt đới.
Việc nhận biết đặc điểm hình thái của nấm đã có từ lâu, từ khi con ngƣời biết sử dụng nấm làm thức ăn. Tuy vậy, khi đó nó chƣa trở thành một môn khoa học. Khoa học nghiên cứu nấm đƣợc hình thành từ thế kỷ XVIII. Năm 1729, Michell lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và đăng bài trên tạp chí “Các chi thực vật”.
Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đƣa ra 10 chi nấm mọc trên đất. Nhiều khoa học nổi tiếng thời kỳ sau này là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkley. Khoa học bệnh cây bắt đầu gắn liền với nấm học từ năm 1851. Ngƣời sáng lập là A.
Sau này, với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm. Những căn cứ để phân loại nấm: dựa vào đặc điểm hình thái, phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, quá trình sinh trƣởng, phát triển của nấm. Năm 1881, nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm dựa vào hình thái thể quả và mỗi quan hệ thân thuộc của chúng, đã đƣợc đông đảo các nhà nấm học trên thế giới công nhận nhƣ: Cuningham G. Đến năm1893, nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten.
Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều khoa học trên 4 thế giới chấp nhận nhƣ: Mayer E. Năm 1971, Aisworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành hai ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành trên, tác giả lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi và loài.
Nhƣ vậy, trong một taxon đơn vị phân loại nhỏ nhất là loài. Tại Tokyo (Nhật Bản), Hiệp hội nấm quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1971, đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt). Trong giới sinh vật đa bào, loài sinh vật nhân thật có rất nhiều quan điểm và hệ thống phân loại, sắp xếp khác nhau.
Cho đến nay, hệ thống phân loại nấm của Ainsworth đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế giới sử dụng. Ở Việt Nam Đối với Việt Nam giai đoạn 1890 – 1928, tổng cộng có khoảng 200 loài, trong đó 28 loài phân bố ở Trung bộ và 37 loài ở Bình Trị Thiên với 6 loài phân bố ở đèo Hải Vân: Amauroderma rude (Berk) Torrend, Hymenochaete adusta (Lév.) Bres, Laetiporus sulphureus (Bull. Fr) Murr, Microporus affinis (Blume & Nees) O. Ktze, Phylloporia fructica (Berk & Curt) Ryv.
và Polyporus grammocephalus Berk. Phạm Hoàng Hộ (1953) là ngƣời Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm với tác phẩm “Cây cỏ miền nam Việt Nam” ông đã mô tả vắn tắt 48 chi, 31 loài nấm. Ở miền bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm đƣợc bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn (1965) đã mô tả 28 loài nấm ăn đƣợc và 10 loài nấm độc, Trƣơng Văn Năm (1965) “Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở lâm trƣờng Hữu Lũng”, Trịnh 5 Tam Kiệt với đề tài “Bƣớc đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” (1965) và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” (1966). Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” đã mô tả 22 loài; Lê Văn Liễu (1977) “Một số nấm ăn đƣợc và nấm độc ở rừng” với 118 loài; Năm 1978, Trịnh Tam Kiệt công bố “Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, tác giả đã mô tả 90 loài nấm sống trên gỗ.