ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc ngầm là nƣớc ở thể lỏng chứa đầy trong các lỗ hổng của đất và nham thạch tạo nên lớp vỏ Trái Đất. Nguồn nƣớc ngầm hình thành nằm trong vòng tuần hoàn của nƣớc. Đây là lƣợng nƣớc ta không thể nhìn thấy đƣợc. Trong vòng tuần hoàn, quá trình mƣa đƣa nƣớc trở lại mặt đất thì một phần lƣợng mƣa rơi trên mặt đất và thấm vào trong đất trở thành nƣớc ngầm.
Lƣợng nƣớc này do không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên sẽ tập trung ở bề mặt lớp đá này. Các mạch ngầm sẽ hƣớng dần ra vùng sông, suối cung cấp một phần nƣớc cho chúng. Tuy nhiên, việc hình thành nƣớc ngầm còn phụ thuộc vào lƣợng nƣớc ngấm xuống, lƣợng mƣa của vùng đó, khả năng trữ nƣớc của đất. Cùng với sự gia tăng các đô thị trên toàn quốc là sự gia tăng dân số đô thị, theo đó nhu cầu sử dụng nƣớc không ngừng tăng.
Nguồn nƣớc mặt bị suy giảm và ô nhiễm nghiêm trọng vì thế nguồn nƣớc chủ yếu sử dụng cho sinh hoạt là nƣớc ngầm. So với nƣớc mặt, nƣớc ngầm có chất lƣợng tốt hơn, trong khai thác và sử dụng giảm đƣợc chi phí xây dựng công trình tạo nguồn và dẫn nƣớc. Nên nƣớc ngầm đƣợc lựa chọn phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt ở các nƣớc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo nghiên cứu của G.S Nguyễn Tiến Đạt, Hội Đập Lớn và phát triển nguồn nƣớc Việt Nam cho biết trên thế giới, bình quân tỷ lệ khai thác nƣớc ngầm chiếm 20% so với lƣợng nƣớc mặt đƣợc khai thác.
Nhiều nƣớc Nam Á cũng chiếm tỷ lệ cao về khai thác nƣớc ngầm nhƣ Ấn Độ chiếm 34,5 %; Bangladesh chiếm trên 70%; Pakistan chiếm 36,5%. Nhìn chung trên thế giới việc phối hợp khai thác sử dụng nƣớc mặt và nƣớc ngầm đƣợc thực hiện gắn bó với quy luật phát triển kinh tế thị trƣờng nên tỷ lệ khai thác nƣớc ngầm chiếm tỷ lệ cao. Mặt khác, theo thống kê của Bộ tài nguyên và môi trƣờng, hiện này, tại khu vực thành phố Hà Nội, tổng lƣợng nƣớc ngầm khai thác cấp cho thành phố Hà Nội là khoảng 1,5 triệu, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 28 trạm quan trắc nƣớc đất trong mạng quan trắc Quốc gia và 64 trạm quan trắc nƣớc dƣới đất trong trạm quan trắc mực nƣớc dƣới đất phân bố rải rác khắp địa bàn thành phố Hà Nội. Tính đến năm 2014 tổng lƣợng nƣớc ngầm mà 1 Việt Nam khai thác là 1,85 tỷ m3.
Chứng tỏ nhu cầu sử dụng nƣớc ngầm cho sinh hoạt là phổ biến và thông dụng tại Việt Nam và trên thế giới. Xuân Mai – một thị trấn ngoại thành Hà Nội cũng đang trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa mạnh mẽ. Đây là nơi tập trung dân cƣ đông đúc gồm ngƣời dân địa phƣơng, học sinh, sinh viên của các trƣờng Đại học, Cao đẳng, lực lƣợng vũ trang và một số ngƣời dân lao động từ khu vực khác đến sinh sống. Nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân sử dụng chủ yếu là nƣớc ngầm, do vậy vấn đề nhu cầu sử dụng cũng nhƣ nhu cầu về chất lƣợng nƣớc ngầm rất đƣợc quan tâm và đây đƣợc coi là một vẫn đề cấp thiết.
Mặc dù đã có một số nghiên cứu đánh giá về chất lƣợng nƣớc ngầm và đƣa ra các biện pháp sử dụng hợp lí nƣớc ngầm, tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào tổng hợp về quy luật biến đổi và đánh giá chất lƣợng nƣớc ngầm tại núi Luốt_trƣờng đai học Lâm nghiệp. Điều này gây khó khăn cho việc xác định mức độ sử dụng nƣớc ngầm và đề xuất biện pháp sử dụng hợp lí nguồn nƣớc quí giá này. Đứng trƣớc tính cấp thiết về yêu cầu sử dụng tài nguyên nƣớc ngầm, nguồn nƣớc sinh hoạt và sản xuất cho ngƣời dân sinh sống trên địa bàn thị trấn Xuân Mai, tôi đã lựa chọn đề tài “ Đánh giá sự biến động và đặc điểm chất lượng nước ngầm tại núi Luốt trường Đại học Lâm Nghiệp”. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm quản lý bền vững tài nguyên nƣớc ngầm và cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân tại khu vực nghiên cứu đồng thời đề xuất một số biện pháp sử dụng hợp lí nguồn nƣớc quí giá này.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc ngầm - Khái niệm: Nƣớc ngầm hay còn gọi là nƣớc dƣới đất, là nƣớc ngọt đƣợc chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nƣớc chứa trong các tầng ngậm nƣớc bên dƣới mực nƣớc ngầm. Đôi khi ngƣời ta còn phân biệt nƣớc ngầm nông, nƣớc ngầm sâu và nƣớc chôn vùi.
“ Nƣớc ngầm là một dạng nƣớc dƣới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích nhƣ cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxto dƣới bề mặt Trái Đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con ngƣời”. Nƣớc ngầm cũng có những đặc điểm giống nƣớc mặt nhƣ nguồn vào, nguồn ra và chứa. Sự khác biệt chủ yếu với nƣớc mặt là do tốc độ luân chuyển chậm, khả năng giữ nƣớc ngầm nhìn chung lớn hơn nƣớc mặt khi so sánh về lƣợng nƣớc đầu vào. Các nguồn thoát tự nhiên nhƣ suối và thấm vào các đại dƣơng.
Đặc điểm của nƣớc ngầm Đặc điểm thứ nhất Nƣớc ngầm tiếp xúc trực tiếp hoàn toàn với đất và nham thạch. Nƣớc ngầm có thể là các màng mỏng bao phủ các phần tử nhỏ bé giữa các hạt đất, nham thạch, là chất lỏng đƣợc chứa đầy trong các ống mao dẫn nhỏ bé giữa các hạt đất, đá, nƣớc ngầm có thể tạo ra các tia nƣớc nhỏ trong các tầng thấm nƣớc, thậm chí nó có thể tạo ra khối nƣớc ngầm rất dày trong các tầng đất đá, nham thạch. Thời gian tiếp xúc của nƣớc ngầm với đất và nham thạch lại rất dài nên tạo điều kiện cho các chất trong đất và nham thạch tan trong nƣớc ngầm. Nhƣ vậy thành phần hóa học của nƣớc ngầm chủ yếu phụ thuốc vào thành phần hóa học của các tầng đất, nham thạch chứa nó.
Đặc điểm thứ hai Các loại đất, nham thạch của vỏ trái đất chia thành các tầng lớp khác nhau. Mỗi tầng lớp đó có thành phần hóa học khác nhau. Giữa các tầng, lớp đất, 3 nham thạch thƣờng có các lớp không thấm nƣớc. Vì vậy, nƣớc ngầm cũng đƣợc chia thành các tầng, lớp khác nhau và thành phần hóa học của các tầng lớp đó cũng khác nhau.
Đặc điểm thứ ba Ảnh hƣởng của khí hậu đối với nƣớc ngầm không đồng đều. Nƣớc ngầm ở tầng trên cùng, sát mặt đất chịu ảnh hƣởng của khí hậu. Các khí hòa tan trong tầng nƣớc ngầm này do mƣa, nƣớc sông, nƣớc hồ … mang đến. Thành phần hóa học của nƣớc ngầm của tầng này chịu ảnh hƣởng nhiều của khí hậu.
Trái lại, nƣớc ngầm ở tầng sâu lại ít hoặc không chịu ảnh hƣởng của khí hậu. Thành phần hóa học của nƣớc ngầm thuộc tầng này chịu ảnh hƣởng trực tiếp của thành phần hóa học tầng nham thạch chứa nó. Đặc điểm thứ tƣ: Thành phần của nƣớc ngầm không những chịu ảnh hƣởng về thành phần hóa học của tầng nham thạch chứa nó mà còn phụ thuộc vào tính chất vật lý của các tầng nham thạch đó. Ở các tầng sâu khác nhau, nham thạch có nhiệt độ và áp suất khác nhau nên nƣớc chứa trong các tầng nham thạch đó cũng có nhiệt độ và áp suất khác nhau.
Vì vậy, nƣớc ngầm ở các tầng rất sâu có thể có áp suất hàng ngày và nhiệt độ có thể lớn hơn 373 độ K. Đặc điểm thứ năm Nƣớc ngầm ít chịu ảnh hƣởng của sinh vật nhƣng chịu ảnh hƣởng nhiều của vi sinh vật. Ở các tầng sâu đó không có oxy và ánh sáng nên vi sinh vật yếm khí hoạt động mạnh, chi phối nhiều đến thành phần hóa học của nƣớc ngầm. Vì vậy, thành phần hóa học của nƣớc ngầm chứa nhiều chất có nguồn gốc vi sinh vật.
Tất cả 5 đặc điểm trên đã góp phần quyết định tính chất và thành phần của nƣớc ngầm. Qua đó chúng ta thấy những đặc điểm cơ bản của thành phần hóa học của nƣớc ngầm là: 4 - Thành phần hóa học của nƣớc ngầm rất phức tạp. Nó chịu ảnh hƣởng của cả tính chất vật lý lẫn các thành phần hóa học của tầng đất, nham thạch chứa nó. Trong nƣớc ngầm chứa tất cả các nguyên tố cấu tạo nên lớp vỏ trái đất, nhƣng hàm lƣợng của các nguyên tố đó trong các tầng nƣớc ngầm khác nhau là khác nhau.
- Độ khoáng hóa của các loại nƣớc ngầm cũng rất khác nhau. - Động thái thủy hóa của các lớp nƣớc ngầm ở tầng sâu chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Thành phần hóa học của chúng thay đổi rất chậm, thƣờng phải dựa vào niên đại của địa chất để dự đoán. - Nƣớc ngầm chỉ chiếm 30,1% trong 0,9% lƣợng nƣớc trên Trái Đất nhƣng nó lại đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của động thực vật và con ngƣời trên Trái Đất.
Theo tự nhiên nƣớc ngầm sẽ tạo thành các dòng chảy ra sông, hồ và chảy ra biển, tuy nhiên con ngƣời hiện nay đã lấy nƣớc ngầm theo cách nhân tạo theo hình thức giếng khơi, giếng khoan và ống khoan của các nhà máy nƣớc. - Đối với các hộ gia đình Việt Nam hiện nay việc lấy nƣớc ngầm thông qua đào giếng khơi và giếng khoan là diễn ra phổ biến nhất. Nguồn nƣớc giếng này rất quan trọng trong việc cung cấp nƣớc sinh hoạt hàng ngày cho ngƣời dân. Phân loại nƣớc ngầm Theo độ sâu phân bố có thể chia nƣớc ngầm thành nƣớc ngầm tầng mặt và nƣớc ngầm tầng sâu.
Đặc điểm chung của nƣớc ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nƣớc ngầm tầng mặt thƣờng không có lớp ngăn cách với địa hình về mặt. Do vậy, thành phần mực nƣớc biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nƣớc mặt. Loại nƣớc ngầm tầng mặt dễ bị ô nhiễm.
Nƣớc ngầm tầng sâu nằm trong lớp đất đá xốp đƣợc ngăn cách bên trên và phía dƣới bởi các lớp không thấm nƣớc. Theo không gian phân bố, một lớp nƣớc ngầm tầng sâu thƣờng có ba vùng chức năng: 5 Vùng thu nhận nƣớc. Vùng chuyển tải nƣớc. Vùng khai thác nƣớc có áp.
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nƣớc thƣờng khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nƣớc ở vùng khai thác thƣờng có áp lực. Đây là loại nƣớc ngầm có chất lƣợng tốt và lƣu lƣợng ổn đinh. Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thƣờng tồn tại loại nƣớc ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ.