Đánh giá sinh trưởng của thông mã vĩ pinus massoniana lamb được trồng tại rừng phòng hộ khu vực xà hồ trạm tấu yên bái

Nghiên cứu, đánh giá sinh trưởng thông mã vĩ (Pinus massoniana) tại rừng phòng hộ Xà Hồ, Trạm Tấu, Yên Bái. Khám phá kết quả chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC MẪU BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số nghiên cứu về Thông trên thế giới

1.2. Nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng rừng trồng

1.3. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng

1.4. Nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng rừng trồng

1.5. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu tổng quát

2.2. Mục tiêu cụ thể

2.3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.5.1. Phƣơng pháp kế thừa

2.5.2. Phƣơng pháp điều tra thực địa

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH XÃ HỘI KHU VỰC

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí, ranh giới

3.1.2. Điều kiện lập địa

3.1.3. Các yếu tố khí hậu

3.1.4. Các yếu tố địa hình

3.1.5. Các yếu tố về đất, đá mẹ

3.1.6. Tình hình thực bì

3.1.7. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

3.1.8. Các yếu tố về thủy văn, nguồn nƣớc (sông suối, ao, hồ)

3.2. Quá trình hình thành

3.3. Địa lý hành chính

3.4. Dân sinh kinh tế

3.5. Tình hình giao thông vận tải

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Lịch sử rừng trồng Thông mã vĩ tại Xà Hồ, Trạm Tấu, Yên Bái

4.2. Đánh giá sinh trƣởng của cây Thông mã vĩ

4.2.1. Đặc điểm hình thái

4.2.2. Sinh trƣởng của loài Thông 18 tuổi trên địa bàn xã Xà Hồ

4.2.2.1. Sinh trƣởng chiều cao vút ngọn

4.3. Thực trạng trồng Thông trên địa bàn xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu

4.3.1. Các loài Thông trồng lấy nhựa tại xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

4.3.2. Thực trạng gây trồng Thông của xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu

4.4. Đánh giá về khả năng phòng hộ của rừng tại địa bàn xã Xà Hồ

4.5. Đề xuất một số giải pháp về việc bảo vệ và phát triển rừng Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò rừng Thông Mã Vĩ tại Trạm Tấu Yên Bái

Rừng Thông Mã Vĩ (Pinus massoniana Lamb.) tại khu vực Xà Hồ, Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái đóng vai trò chiến lược trong hệ thống rừng trồng phòng hộ. Được trồng từ năm 2000, lâm phần này có nhiệm vụ cốt lõi là phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất và điều tiết nguồn nước cho vùng núi cao. Nghiên cứu về sinh trưởng của loài cây này không chỉ là một báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học đơn thuần, mà còn là cơ sở thực tiễn để đánh giá hiệu quả của các dự án lâm nghiệp. Các nghiên cứu khoa học lâm nghiệp trước đây đã chỉ ra rằng Thông Mã Vĩ là một loài cây gỗ lớn có khả năng thích ứng cao với điều kiện lập địa khắc nghiệt, đặc biệt là trên các vùng đất dốc, nghèo dinh dưỡng. Tại Yên Bái, nơi có khí hậu vùng cao đặc thù và địa hình chia cắt mạnh, việc lựa chọn Thông Mã Vĩ cho mục tiêu phòng hộ là một quyết định mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp Yên Bái. Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng sau gần hai thập kỷ cung cấp dữ liệu quý giá cho việc xây dựng các kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm tối ưu hóa khả năng phòng hộ và hướng tới phát triển bền vững. Nghiên cứu này, tương tự một luận văn thạc sĩ lâm nghiệp, tập trung vào việc phân tích các yếu tố định lượng như đường kính, chiều cao để hiểu rõ động thái phát triển của quần thể, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Lịch sử hình thành rừng phòng hộ Thông Mã Vĩ tại Xà Hồ

Theo tài liệu từ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu, rừng Thông Mã Vĩ tại thôn Suối Giao, xã Xà Hồ được trồng vào năm 2000. Tổng diện tích ban đầu là 1035,49 ha, chiếm 58,17% tổng diện tích đất rừng của xã. Mật độ trồng rừng ban đầu được xác định là 833 cây/ha. Mục tiêu chính của dự án là thiết lập một vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn vững chắc. Khu vực này có địa hình dốc cao, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, thường xuyên đối mặt với nguy cơ lũ quét và sạt lở đất. Việc trồng thông nhằm mục tiêu chống xói mòn đất, ổn định đất đai và bảo vệ cơ sở hạ tầng, khu dân cư phía hạ lưu. Sau gần 20 năm, cấu trúc tuổi rừng trồng này đã bước vào giai đoạn thành thục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả sinh trưởng và khả năng phòng hộ.

1.2. Tổng quan về đặc điểm sinh thái của Pinus massoniana Lamb.

Pinus massoniana Lamb. là loài cây gỗ lớn, thân thẳng, có thể cao tới 30m trong điều kiện tối ưu. Một trong những đặc điểm sinh thái Thông Mã Vĩ nổi bật là khả năng thích ứng rộng, chịu được đất nghèo dinh dưỡng và khô hạn. Vỏ cây mỏng, bong thành từng mảng, khác biệt so với Thông nhựa. Lá kim, dài từ 15-20cm ở cây trưởng thành. Loài cây này bắt đầu ra nón từ 6-7 tuổi, cho thấy khả năng tái sinh tự nhiên sớm. Những đặc tính này làm cho Thông Mã Vĩ trở thành lựa chọn lý tưởng cho các chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và đặc biệt là các dự án phòng hộ ở những vùng có thổ nhưỡng Trạm Tấu khắc nghiệt, nơi nhiều loài cây bản địa khác khó phát triển.

II. Thách thức trong việc phát triển rừng Thông tại Yên Bái

Việc phát triển rừng Thông Mã Vĩ tại huyện Trạm Tấu đối mặt với nhiều thách thức cố hữu của vùng núi cao. Yếu tố lớn nhất là điều kiện lập địa phức tạp, đặc trưng bởi địa hình dốc, bị chia cắt mạnh, khiến đất đai dễ bị rửa trôi và xói mòn. Khí hậu vùng cao Yên Bái với mùa đông lạnh, có sương muối và mùa hè có gió Lào khô nóng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và quá trình sinh trưởng của cây non. Hơn nữa, tập quán canh tác nương rẫy của người dân địa phương đôi khi gây áp lực lên tài nguyên rừng. Việc thiếu các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên tiến và đồng bộ trong quá trình chăm sóc, tỉa thưa cũng là một rào cản. Điều này dẫn đến tình trạng rừng phát triển không đồng đều, một số cá thể sinh trưởng kém, thân cong, làm giảm cả giá trị kinh tế lẫn khả năng phòng hộ. Do đó, một báo cáo đề tài nghiên cứu chi tiết về sinh trưởng là cần thiết để xác định các vấn đề tồn tại và tìm ra giải pháp tối ưu, đảm bảo mục tiêu phòng hộ đầu nguồn được thực hiện một cách bền vững và hiệu quả.

2.1. Ảnh hưởng của thổ nhưỡng Trạm Tấu và khí hậu khắc nghiệt

Thổ nhưỡng Trạm Tấu chủ yếu là đất Feralit trên núi, có độ pH từ 4,5 đến 5,5, tầng đất mỏng và tỷ lệ đá lẫn cao. Mặc dù Thông Mã Vĩ có khả năng thích nghi tốt, điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng này vẫn hạn chế tiềm năng sinh trưởng tối đa của cây. Thêm vào đó, khí hậu vùng cao Yên Bái có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm, mùa đông có sương muối gây hại cho cây non. Lượng mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa hè, gây ra nguy cơ chống xói mòn đất nghiêm trọng vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô. Những yếu tố này đòi hỏi phải có chiến lược trồng và chăm sóc đặc thù để đảm bảo rừng phát triển ổn định.

2.2. Hiện trạng quản lý và các tác động từ con người

Công tác quản lý rừng trồng phòng hộ tại Xà Hồ còn gặp nhiều khó khăn. Nguồn nhân lực mỏng và nhận thức của một bộ phận người dân về vai trò của rừng chưa cao dẫn đến các hoạt động xâm lấn, khai thác trái phép. Mặc dù đã có các chính sách giao khoán, việc giám sát và áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tỉa thưa, phòng chống cháy rừng chưa được thực hiện triệt để. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chỉ tiêu sinh trưởng của rừng mà còn làm giảm hiệu quả phòng hộ. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính quyền, ban quản lý rừng và cộng đồng địa phương để bảo vệ và phát triển bền vững vốn rừng quan trọng này.

III. Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng Thông Mã Vĩ tối ưu nhất

Để đánh giá chính xác sinh trưởng của Pinus massoniana Lamb. tại Xà Hồ, một phương pháp nghiên cứu khoa học bài bản đã được áp dụng. Phương pháp luận này dựa trên cơ sở của thống kê lâm nghiệp, kết hợp giữa điều tra thực địa và phân tích số liệu trong phòng. Cốt lõi của phương pháp là lập các ô tiêu chuẩn (OTC) đại diện trên thực địa. Các ô này được phân bố ở ba vị trí địa hình khác nhau: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi, nhằm phản ánh sự khác biệt về điều kiện lập địa. Tại mỗi ô, các chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng của từng cây được đo đếm cẩn thận, bao gồm đường kính ngang ngực D1.3chiều cao vút ngọn Hvn. Dữ liệu thu thập được sau đó được xử lý bằng phần mềm thống kê (Excel) để tính toán các giá trị trung bình, phương sai, và hệ số biến động. Tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn được sử dụng để kiểm tra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vị trí. Cách tiếp cận này đảm bảo kết quả nghiên cứu khoa học lâm nghiệp có độ tin cậy cao, là nền tảng vững chắc để đưa ra các kết luận và khuyến nghị thực tiễn.

3.1. Quy trình lập ô tiêu chuẩn và thu thập dữ liệu thực địa

Nghiên cứu đã thiết lập tổng cộng 18 ô tiêu chuẩn (OTC), mỗi ô có diện tích 500m² (20m x 25m). Các ô được phân bổ đều tại 3 vị trí: 6 ô ở chân đồi, 7 ô ở sườn đồi và 5 ô ở đỉnh đồi. Việc phân bổ này giúp đánh giá tác động của vi địa hình lên sinh trưởng của cây. Trong mỗi OTC, tất cả các cây Thông Mã Vĩ đều được đo đếm các chỉ tiêu chính. Đường kính ngang ngực D1.3 được đo bằng thước kẹp kính theo hai hướng Đông-Tây và Nam-Bắc để lấy giá trị trung bình. Chiều cao vút ngọn Hvn được đo bằng máy đo chuyên dụng. Các số liệu này được ghi chép cẩn thận vào biểu mẫu điều tra, làm cơ sở cho quá trình phân tích sau này.

3.2. Phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng và ý nghĩa thống kê

Dữ liệu từ các OTC được tổng hợp và phân tích để tính toán các đặc trưng mẫu như trị số trung bình, phương sai (S²), và sai tiêu chuẩn (S). Các chỉ số này giúp mô tả đặc điểm của lâm phần. Đặc biệt, chỉ tiêu sinh trưởng như D1.3tb (đường kính trung bình) và Hvntb (chiều cao trung bình) phản ánh trực tiếp sức sống và năng suất của rừng. Để xác định liệu có sự khác biệt thực sự về sinh trưởng giữa các vị trí chân, sườn, và đỉnh đồi hay không, nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn U (Z-test). Kết quả so sánh |Ut| với giá trị ngưỡng (1,96) cho phép kết luận về sự đồng nhất hay khác biệt của các mẫu, cung cấp một luận cứ khoa học vững chắc cho các đánh giá.

IV. Kết quả đánh giá rừng Thông Mã Vĩ Trạm Tấu sau 18 năm

Sau 18 năm, rừng Thông Mã Vĩ tại Xà Hồ đã đạt đến giai đoạn thành thục sinh trưởng và thể hiện khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương. Kết quả phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng cho thấy sự phát triển khá đồng đều trên toàn bộ khu vực nghiên cứu. Cụ thể, đường kính ngang ngực D1.3 trung bình dao động từ 18,6 cm (chân đồi) đến 21,66 cm (đỉnh đồi). Tương tự, chiều cao vút ngọn Hvn trung bình đạt khoảng 11m ở cả ba vị trí. Một phát hiện quan trọng từ phân tích thống kê là không có sự khác biệt rõ rệt về mặt sinh trưởng (cả D1.3 và Hvn) giữa các vị trí chân, sườn và đỉnh đồi. Điều này cho thấy Pinus massoniana Lamb. có phổ sinh thái rộng, sinh trưởng ổn định trên nhiều dạng địa hình khác nhau trong cùng một tiểu vùng khí hậu. Đường cong phân bố số cây theo đường kính và chiều cao đều có dạng một đỉnh, tiệm cận phân bố chuẩn, là đặc trưng của một lâm phần thuần loài, đều tuổi đang ở giai đoạn phát triển ổn định. Những kết quả này khẳng định sự thành công của dự án rừng trồng phòng hộ và cung cấp cơ sở để ước tính trữ lượng cây đứng.

4.1. Phân tích chi tiết đường kính ngang ngực D1.3 của lâm phần

Kết quả đo đếm cho thấy đường kính ngang ngực D1.3 trung bình của rừng Thông Mã Vĩ 18 tuổi là 18,60 cm ở chân đồi, 19,50 cm ở sườn đồi, và 21,66 cm ở đỉnh đồi. Mặc dù có sự chênh lệch nhỏ về giá trị tuyệt đối, kết quả kiểm định U cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (|Ut| < 1,96). Điều này có nghĩa là yếu tố vị trí địa hình không ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng đường kính của cây trong khu vực nghiên cứu. Số cây tập trung nhiều nhất ở cấp đường kính 20 cm, cho thấy một cấu trúc tuổi rừng trồng khỏe mạnh và đồng đều, sẵn sàng cho các tác động lâm sinh hoặc khai thác nhựa nếu có kế hoạch.

4.2. Đánh giá tăng trưởng chiều cao vút ngọn Hvn và cấu trúc rừng

Về chiều cao vút ngọn Hvn, các giá trị trung bình cũng khá tương đồng: 10,90 m (chân đồi), 11,05 m (sườn đồi), và 11,08 m (đỉnh đồi). Tương tự như đường kính, phân tích thống kê khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các vị trí. Điều này củng cố thêm nhận định về khả năng thích ứng cao của loài. Cây sinh trưởng tốt về chiều cao là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tán lá. Tán lá phát triển giúp tăng cường đa dạng sinh học rừng trồng ở tầng dưới và đặc biệt là nâng cao hiệu quả phòng hộ đầu nguồn bằng cách che phủ mặt đất, giảm tác động của mưa.

V. Hiệu quả phòng hộ và ứng dụng thực tiễn của Thông Mã Vĩ

Rừng Thông Mã Vĩ tại Xà Hồ không chỉ thể hiện các chỉ tiêu sinh trưởng tốt mà còn chứng minh vai trò phòng hộ vượt trội. Với độ tàn che của lâm phần đạt 0,7, tán rừng có khả năng ngăn cản khoảng 9-11% lượng nước mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất, theo các nghiên cứu tương tự của Nguyễn Ngọc Lung (1997). Điều này làm giảm đáng kể năng lượng của hạt mưa, hạn chế hiện tượng phá vỡ kết cấu đất và là yếu tố then chốt trong việc chống xói mòn đất. Lớp thảm mục dưới tán rừng cũng góp phần giữ nước, tăng độ ẩm cho đất và giảm dòng chảy bề mặt trong mùa mưa. Về thực trạng, lâm nghiệp Yên Bái xác định Thông là một trong những cây trồng chủ lực. Tại Xà Hồ, diện tích trồng thông chiếm tới 58,17% diện tích đất rừng, cho thấy tầm quan trọng của nó đối với kinh tế và môi trường địa phương. Tuy nhiên, để phát huy tối đa tiềm năng, cần có sự đầu tư vào khoa học kỹ thuật trong trồng, chăm sóc và chế biến, tìm kiếm đầu ra ổn định cho các sản phẩm từ cây thông, đặc biệt là nhựa thông. Đây là hướng đi quan trọng để phát triển bền vững rừng trồng phòng hộ.

5.1. Đánh giá khả năng chống xói mòn và bảo vệ nguồn nước

Vai trò phòng hộ đầu nguồn của rừng Thông Mã Vĩ được thể hiện rõ qua khả năng bảo vệ đất. Độ tàn che cao (0,7) tạo thành một mái che tự nhiên, làm giảm sức công phá của mưa. Lượng nước được giữ lại trên tán và thấm dần xuống đất giúp điều tiết dòng chảy, hạn chế nguy cơ lũ ống, lũ quét vốn rất phổ biến ở Trạm Tấu. Rừng thông còn góp phần duy trì và ổn định nguồn nước ngầm, cung cấp nước cho các khe suối trong mùa khô. Đây là những giá trị phòng hộ vô giá mà không thể đo đếm hoàn toàn bằng kinh tế, khẳng định sự thành công của việc lựa chọn loài cây này cho mục tiêu bảo vệ môi trường.

5.2. Thực trạng phát triển lâm nghiệp Yên Bái và cây Thông Mã Vĩ

Hiện nay, xã Xà Hồ có 2.329,09 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất trồng rừng chiếm đa số với 1.158,38 ha. Pinus massoniana Lamb. là cây trồng chiếm ưu thế tuyệt đối, cho thấy sự phù hợp của nó với định hướng phát triển lâm nghiệp Yên Bái. Mặc dù có diện tích lớn và vai trò quan trọng, việc phát triển cây thông vẫn đối mặt với thách thức về thị trường và công nghệ sau thu hoạch. Cần có các chính sách hỗ trợ người dân áp dụng khoa học kỹ thuật, từ khâu chọn giống, chăm sóc đến khai thác và bảo quản sản phẩm, để nâng cao giá trị kinh tế song song với việc duy trì chức năng phòng hộ.

VI. Giải pháp bền vững phát triển rừng Thông Mã Vĩ ở Trạm Tấu

Để phát triển bền vững rừng Thông Mã Vĩ tại Trạm Tấu, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về kỹ thuật, quản lý và chính sách. Về mặt kỹ thuật, cần áp dụng các kỹ thuật lâm sinh tiên tiến như tỉa thưa hợp lý để cải thiện chất lượng lâm phần, tạo điều kiện cho những cây tốt nhất phát triển và tăng cường khả năng chống chịu của rừng. Việc xây dựng các băng xanh, băng trắng cản lửa là biện pháp cấp thiết để phòng chống cháy rừng, đặc biệt vào mùa khô. Về quản lý, cần tăng cường công tác giao khoán bảo vệ rừng gắn với trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng địa phương. Xây dựng cơ chế đồng quản lý, nơi người dân cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm, là chìa khóa để bảo vệ rừng hiệu quả. Song song đó, các nghiên cứu khoa học lâm nghiệp cần được tiếp tục đẩy mạnh. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về đa dạng sinh học rừng trồng, ảnh hưởng của rừng đến tài nguyên nước và các mô hình kinh tế dưới tán rừng để tối ưu hóa lợi ích. Cuối cùng, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò của rừng trồng phòng hộ trong việc giảm thiểu thiên tai là nhiệm vụ phải được thực hiện thường xuyên và liên tục.

6.1. Đề xuất các kỹ thuật lâm sinh và biện pháp quản lý tối ưu

Dựa trên kết quả đánh giá, một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần được ưu tiên. Thứ nhất, cần thực hiện tỉa thưa định kỳ để điều chỉnh mật độ trồng rừng, loại bỏ các cây sinh trưởng kém, tạo không gian cho các cây ưu thế phát triển. Thứ hai, trồng bổ sung các loài cây bản địa dưới tán rừng để tăng cường đa dạng sinh học rừng trồng và cải thiện khả năng giữ đất. Về quản lý, cần củng cố vai trò của cộng đồng thôn bản trong việc tuần tra, bảo vệ rừng. Cơ chế chia sẻ lợi ích từ các sản phẩm ngoài gỗ như nhựa thông cần được xây dựng minh bạch để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ.

6.2. Tầm quan trọng của các nghiên cứu khoa học lâm nghiệp tiếp theo

Nghiên cứu hiện tại đã cung cấp cái nhìn tổng quan về sinh trưởng của rừng thông 18 tuổi. Tuy nhiên, để quản lý bền vững, các nghiên cứu khoa học lâm nghiệp trong tương lai cần đi sâu hơn. Các đề tài cần tập trung vào việc lập biểu thể tích và biểu tăng trưởng cho Thông Mã Vĩ tại khu vực, làm cơ sở cho việc dự báo sản lượng và hoạch định khai thác. Nghiên cứu về các mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng thông cũng là một hướng đi tiềm năng, giúp người dân cải thiện sinh kế mà không gây hại đến chức năng phòng hộ đầu nguồn của rừng. Những luận văn thạc sĩ lâm nghiệp và các dự án nghiên cứu sâu hơn sẽ là cơ sở khoa học quan trọng cho ngành lâm nghiệp Yên Bái.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thông là loài đƣợc trồng phổ biến hiện nay. Loài Thông đang là một trong những giống cây trồng đƣợc nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm để trồng rừng công nghiệp, rừng phù xanh đất trồng, đồi núi trọc và đây cũng là đối tƣợng đƣợc đặc biệt quan tâm trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ. Rừng Thông thƣờng đƣợc trồng thuần loài hoặc trồng hỗn loài với Keo, Dẻ, cây hộ Dầu… Rừng trồng hiện nay chủ yếu là rừng thuần loài. Nhƣng trữ lƣợng và chất lƣợng rừng còn rất thấp chƣa đáp ứng đc nhu cầu sự dụng gỗ, củi… của ngƣời dân.

Nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lý và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chƣa hợp lý. Vì vậy, việc nghiên cứu sinh trƣởng và xác định kỹ thuật lâm sinh tác động là rất cần thiết. Xà Hồ thuộc huyện Trạm tấu là một huyện vùng cao, đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái nằm ở phía Tây, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Huyện cách trung tâm tỉnh Yên Bái 114 km theo tuyến đƣờng ô tô Trạm Tấu - Nghĩa Lộ - Yên Bái.

Hiện nay Xà Hồ có 2.329,29 ha diện tích rừng trong đó đất tự nhiên là 419,68 ha, đất chƣa có rừng là 502,95 ha, đất trồng là 1. Rừng trồng chủ yếu là Bạch đàn, Quế, Thông mã vĩ. Trong những năm qua sau khi áp dụng một số loài cây trồng rừng trên địa bàn huyện, một số có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu, lập địa trên địa bàn huyện Trạm Tấu đó là cây Thông mã vĩ (Pinnus massoniana Lamb. Thông mã vĩ tại xã Xà Hồ đƣợc trồng năm 2000.

Từ đó hiện nay chƣa có nghiên cứu về điều tra đánh giá sinh trƣởng đƣợc thực hiện. Do vậy, đề tài “Đánh giá sinh trƣởng của Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) đƣợc trồng tại rừng phòng hộ khu vực Xà Hồ, Trạm Tấu, Yên Bái” đƣợc thực hiện. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về Thông trên thế giới 1.

Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Ở Philippin, các tác giả Intari – SE, Natamiria – D (1973) đã nguyên cứu về tình hình sâu bệnh ở vƣờn ƣơm và rừng trồng đối với rừng trồng loài cây Thông nhựa và các biện pháp phòng trừ cho rằng biện pháp kĩ thuật đem lại hiệu quả cao và thuốc Boordo là tốt nhất để phòng trừ bệnh rơm lá Thông.N (1981) đã đánh giá khảo nghiệm loài của 7 loài Thông trồng tại Đài Chung – Đài Loan cho thấy Thông nhựa sinh trƣởng tốt đứng thứ 5 trong tổng số 12 loài tham khảo nghiệm. Ở Bzazil, Baross - NF - de, Bandi - Rm (1981) với đánh giá sinh trƣởng các loài và xuất xứ Thông tại Viosa, Minas Gerais, tác giả cho thấy sau 7 năm sinh trƣởng của Thông nhựa rất kém so với các loài thông khác đƣợc thử nghiệm. Nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng rừng trồng đƣợc Vilmorin tiến hành lần đầu vào năm 1821 tại pháp. Đó là những khảo nghiệm và nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng loài Thông Châu Âu (Pinus silvestris) tại Les Bares.

Tại Thủy Điển, trong các năm từ 1929 đến 1936, nhà di chuyển chọn giống cây rừng Langlet đã tiến hành khảo nghiệm, đánh giá và so sánh sinh trƣởng của các xuất xứ khác nhau của loài Thông Châu Âu. Cuối những năm 1950, công tác trồng rừng đƣợc chú ý phát triển, các hoạt động khảo nghiệm, nghiên cứu so sánh sinh trƣởng của các xuất xứ của Thông caribe (Pinus caribaea) đƣợc xây dựng ở Fiji (quốc đảo thuộc Châu Đại Dƣơng) vào năm 1955. Những so sánh đánh giá về Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (Pinus merkusii) và một số loài Thông nhiệt đới khác cũng đƣợc xây dựng vào thời kỳ này. Trong quá trình nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng của rừng trồng, hầu hết các nghiên cứu đều dựa vào quá trình sinh trƣởng của các nhân tố đƣờng kính, 2 chiều cao và thể tích thân cây.

Mối quan hệ giữa đƣờng kính với sinh trƣởng chiều cao thƣờng chỉ đƣợc quan tâm trong nghiên cứu quy luật sinh trƣởng của cây rừng. Cho thấy đánh giá sinh trƣởng cây rừng và lâm phần đƣợc nhà nghiên cứu quan tâm làm căn cứ khoa học cho quá trình chọn lập địa, xuất xứ giống cây rừng và là trọng tâm của sản lƣợng rừng, là nền tảng để nghiên cứu các phƣơng pháp dự đoán sản lƣợng cũng nhƣ hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng suất của rừng. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng đã đƣợc thực hiện từ những đầu thế kỷ trƣớc. Ngƣời ta tập trung chủ yếu vào vai trò của rừng trong việc ngăn cản xói mòn và phục hồi đất, vai trò bảo vệ nguồn nƣớc, chắn gió và chắn cát.

Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất có ý nghĩa quan trọng nhất trong lĩnh vực xói mòn đất đã thực hiện bởi Volli từ năm 1844 (theo Huỳnh Văn Lâm, 2013). Đến nay, trong quan điểm chung, vai trò giữ nƣớc của rừng đƣợc hiểu là giữ và tích lũy nƣớc ở bất kỳ dạng nào – làm tăng lƣợng nƣớc trong đất, giảm bốc thoát hơi, tăng mực nƣớc ngầm, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chế xói mòn đất, qua đó làm tăng và ổn định lƣợng nƣớc sông suối, cũng nhƣ làm sạch nƣớc (theo Huỳnh Văn Lâm, 2013). Fiebiger đã dùng khái niệm “Dung tích giữ nƣớc của rừng” để phản ánh khả năng giữ nƣớc của nó và đƣợc xác định bằng tổng lƣợng nƣớc giữ lại trên tán, lƣợng nƣớc giữ lại bởi vật rơi rụng và lƣợng nƣớc tích giữ trong đất. Quan điểm này đã đƣợc các nhà thủy văn rừng chấp nhận một cách rộng rãi (Trần Huệ Tuyền 1994, Vũ Chí Dân và Vƣơng Lễ Tiên 2001).

Khi nghiên cứu vai trò của rừng với nguồn nƣớc, các tác giả đã cố gắng xác định những quan hệ định lƣợng của rừng với đặc điểm của nguồn nƣớc (các tính hiệu ích nƣớc). Vì tính phức tạp của các quá trình thủy văn mà cho đến nay vẫn chƣa có những công thức cho phép định lƣợng nên đã có một số mô hình dự 3 báo thủy văn, trong đó có tính ảnh hƣởng thảm rừng đƣợc tạo ra. Tuy nhiên, sai số của chúng còn lớn do không tính đến đƣợc đầy đủ những nhân tố ảnh hƣởng cụ thể của các nƣớc, các vùng khác nhau. Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Thông mã vĩ hay Thông đuôi ngựa có tên khoa học là Pinus massonniana Lamb, thuộc chi Pinus, họ Pinaceae, từ lâu đã đƣợc nhập trồng rộng khắp trong cả nƣớc.

Thông mã vĩ là loài cây gỗ lớn, có khả năng thích ứng rộng, chịu đựng và sinh trƣởng tốt trên các điều kiện đất đai nghèo xấu, khô hạn. Do có giá trị nhiều mặt nên Thông mã vĩ là một trong những đối tƣợng cây trồng chủ lực trong sản xuất lâm nghiệp ở nƣớc ta. Thông mã vĩ tại rừng trồng thực nghiệm khu vực núi Luốt (trƣờng Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội, trồng năm 1984), cùng với trên 300 loài cây bản địa trồng dƣới tán rất có giá trị cho công tác đào tạo và nghiên cứu, đồng thời là nơi lƣu trữ nguồn gien cây rừng quan trọng cho bảo tồn và phát triển. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy sinh trƣợng của quần thể Thông mã vĩ là không đồng đều, có nhiều cá thể sinh trƣởng nhanh, thân thẳng, dáng đẹp, song cũng xen lẫn với cá thể sinh trƣởng kém, thân cong.

Vì vậy, chọn tìm cây tốt làm giống hay tỉa thƣa cây xấu phục vụ cho bảo tồn và phát triển là khó khăn, vì nhiều kiểu hình tốt chƣa chắc đã phản ánh đúng một kiểu gien tốt do có thể mọc trên địa điểm thuận lợi. Vấn đề đặt ra là có phải nguồn giống ban đầu cho trồng rừng Thông mã vĩ tại khu vực núi Luốt chỉ đƣợc lấy từ một hoặc vài xuất xứ hay không, hoặc chỉ đƣợc lấy từ một vùng sinh thái nào đó có thể bị hẹp về nền tảng di truyền hay mức độ đa dạng di truyền thấp. Mặc dù, đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về nhóm các loài thông, song nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền cho lâm phần Thông mã vĩ tại rừng trồng khu vực núi Luốt thì hiện chƣa có công trình nào công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành. Chính vì vậy, xác định mối quan hệ di truyền giữa các cá thể trong lâm phần rừng trồng Thông mã vĩ, cũng nhƣ mong muốn 4 làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên là lý do mà đề tài nghiên cứu này quan tâm thực hiện.

Do đó, nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền quần thể Thông mã vĩ (Pinus massonniana) tại khu vực núi Luốt là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Thành công của đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp thông tin, cơ sở khoa học với độ tin cậy cao cho công tác chọn giống, bảo tồn, gây trồng và phát triển Thông mã vĩ. Nguyễn Thị Xuân Viên và Trần Duy Hƣng (2013) với nghiên cứu “Đánh giá khả năng sinh trƣởng năm loài cây bản địa trồng dƣới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massiniana) tại Chi Lăng, Lạng Sơn. Trồng rừng bằng phƣơng pháp gieo hạt thẳng cũng đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng cho một số loài.

Theo Lâm Công Định (1964), Hữu Tề (1973) đã trồng Bồ đề (Sryrax tonkinensis), Nguyễn Đình Phúc (1971) trồng Thông nhựa (Pinus merkusii) tại Nghệ An, Lê Hồng (1998) trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana) tại Lạng Sơn. Vũ Văn Thu và Nguyễn Thị Hằng (2012) với đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ bảo quản, tẩy nấm mốc gây biến màu gỗ Thông mã vĩ (Pinus massoniana) ở Lạng Sơn phục vụ sản xuất đồ mộc tiêu dung trong nƣớc và xuất khẩu”. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng. Đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của rừng giúp chống xói mòn bảo vệ đất, trong đó có công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lung (1998) (dẫn theo Nguyễn Thị Huyền) về tác dụng phòng hộ nguồn nƣớc của một số thảm thực vật chính là ở Tây Nguyên và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nƣớc.

Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1997) với Nghiên cứu về xói mòn đất dưới điều kiện hoạt động canh tác nông nghiệp và một số rừng trồng, Vƣơng Văn Quỳnh (1997) đã Nghiên cứu về xói mòn đất ở vùng nguyên cứu giấy (Huỳnh Văn Lâm, 2012). 5 Các công trình nghiên cứu về tác dụng của rừng chắn cát bay đƣợc nghiên cứu bởi Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, trong đó phải kể đến công trình luận án của Đặng Văn Thuyết (2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ