ĐẶT VẤN ĐỀ Thông là loài đƣợc trồng phổ biến hiện nay. Loài Thông đang là một trong những giống cây trồng đƣợc nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm để trồng rừng công nghiệp, rừng phù xanh đất trồng, đồi núi trọc và đây cũng là đối tƣợng đƣợc đặc biệt quan tâm trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ. Rừng Thông thƣờng đƣợc trồng thuần loài hoặc trồng hỗn loài với Keo, Dẻ, cây hộ Dầu… Rừng trồng hiện nay chủ yếu là rừng thuần loài. Nhƣng trữ lƣợng và chất lƣợng rừng còn rất thấp chƣa đáp ứng đc nhu cầu sự dụng gỗ, củi… của ngƣời dân.
Nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lý và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chƣa hợp lý. Vì vậy, việc nghiên cứu sinh trƣởng và xác định kỹ thuật lâm sinh tác động là rất cần thiết. Xà Hồ thuộc huyện Trạm tấu là một huyện vùng cao, đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái nằm ở phía Tây, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Huyện cách trung tâm tỉnh Yên Bái 114 km theo tuyến đƣờng ô tô Trạm Tấu - Nghĩa Lộ - Yên Bái.
Hiện nay Xà Hồ có 2.329,29 ha diện tích rừng trong đó đất tự nhiên là 419,68 ha, đất chƣa có rừng là 502,95 ha, đất trồng là 1. Rừng trồng chủ yếu là Bạch đàn, Quế, Thông mã vĩ. Trong những năm qua sau khi áp dụng một số loài cây trồng rừng trên địa bàn huyện, một số có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu, lập địa trên địa bàn huyện Trạm Tấu đó là cây Thông mã vĩ (Pinnus massoniana Lamb. Thông mã vĩ tại xã Xà Hồ đƣợc trồng năm 2000.
Từ đó hiện nay chƣa có nghiên cứu về điều tra đánh giá sinh trƣởng đƣợc thực hiện. Do vậy, đề tài “Đánh giá sinh trƣởng của Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) đƣợc trồng tại rừng phòng hộ khu vực Xà Hồ, Trạm Tấu, Yên Bái” đƣợc thực hiện. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về Thông trên thế giới 1.
Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Ở Philippin, các tác giả Intari – SE, Natamiria – D (1973) đã nguyên cứu về tình hình sâu bệnh ở vƣờn ƣơm và rừng trồng đối với rừng trồng loài cây Thông nhựa và các biện pháp phòng trừ cho rằng biện pháp kĩ thuật đem lại hiệu quả cao và thuốc Boordo là tốt nhất để phòng trừ bệnh rơm lá Thông.N (1981) đã đánh giá khảo nghiệm loài của 7 loài Thông trồng tại Đài Chung – Đài Loan cho thấy Thông nhựa sinh trƣởng tốt đứng thứ 5 trong tổng số 12 loài tham khảo nghiệm. Ở Bzazil, Baross - NF - de, Bandi - Rm (1981) với đánh giá sinh trƣởng các loài và xuất xứ Thông tại Viosa, Minas Gerais, tác giả cho thấy sau 7 năm sinh trƣởng của Thông nhựa rất kém so với các loài thông khác đƣợc thử nghiệm. Nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng rừng trồng đƣợc Vilmorin tiến hành lần đầu vào năm 1821 tại pháp. Đó là những khảo nghiệm và nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng loài Thông Châu Âu (Pinus silvestris) tại Les Bares.
Tại Thủy Điển, trong các năm từ 1929 đến 1936, nhà di chuyển chọn giống cây rừng Langlet đã tiến hành khảo nghiệm, đánh giá và so sánh sinh trƣởng của các xuất xứ khác nhau của loài Thông Châu Âu. Cuối những năm 1950, công tác trồng rừng đƣợc chú ý phát triển, các hoạt động khảo nghiệm, nghiên cứu so sánh sinh trƣởng của các xuất xứ của Thông caribe (Pinus caribaea) đƣợc xây dựng ở Fiji (quốc đảo thuộc Châu Đại Dƣơng) vào năm 1955. Những so sánh đánh giá về Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (Pinus merkusii) và một số loài Thông nhiệt đới khác cũng đƣợc xây dựng vào thời kỳ này. Trong quá trình nghiên cứu đánh giá sinh trƣởng của rừng trồng, hầu hết các nghiên cứu đều dựa vào quá trình sinh trƣởng của các nhân tố đƣờng kính, 2 chiều cao và thể tích thân cây.
Mối quan hệ giữa đƣờng kính với sinh trƣởng chiều cao thƣờng chỉ đƣợc quan tâm trong nghiên cứu quy luật sinh trƣởng của cây rừng. Cho thấy đánh giá sinh trƣởng cây rừng và lâm phần đƣợc nhà nghiên cứu quan tâm làm căn cứ khoa học cho quá trình chọn lập địa, xuất xứ giống cây rừng và là trọng tâm của sản lƣợng rừng, là nền tảng để nghiên cứu các phƣơng pháp dự đoán sản lƣợng cũng nhƣ hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng suất của rừng. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng đã đƣợc thực hiện từ những đầu thế kỷ trƣớc. Ngƣời ta tập trung chủ yếu vào vai trò của rừng trong việc ngăn cản xói mòn và phục hồi đất, vai trò bảo vệ nguồn nƣớc, chắn gió và chắn cát.
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất có ý nghĩa quan trọng nhất trong lĩnh vực xói mòn đất đã thực hiện bởi Volli từ năm 1844 (theo Huỳnh Văn Lâm, 2013). Đến nay, trong quan điểm chung, vai trò giữ nƣớc của rừng đƣợc hiểu là giữ và tích lũy nƣớc ở bất kỳ dạng nào – làm tăng lƣợng nƣớc trong đất, giảm bốc thoát hơi, tăng mực nƣớc ngầm, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chế xói mòn đất, qua đó làm tăng và ổn định lƣợng nƣớc sông suối, cũng nhƣ làm sạch nƣớc (theo Huỳnh Văn Lâm, 2013). Fiebiger đã dùng khái niệm “Dung tích giữ nƣớc của rừng” để phản ánh khả năng giữ nƣớc của nó và đƣợc xác định bằng tổng lƣợng nƣớc giữ lại trên tán, lƣợng nƣớc giữ lại bởi vật rơi rụng và lƣợng nƣớc tích giữ trong đất. Quan điểm này đã đƣợc các nhà thủy văn rừng chấp nhận một cách rộng rãi (Trần Huệ Tuyền 1994, Vũ Chí Dân và Vƣơng Lễ Tiên 2001).
Khi nghiên cứu vai trò của rừng với nguồn nƣớc, các tác giả đã cố gắng xác định những quan hệ định lƣợng của rừng với đặc điểm của nguồn nƣớc (các tính hiệu ích nƣớc). Vì tính phức tạp của các quá trình thủy văn mà cho đến nay vẫn chƣa có những công thức cho phép định lƣợng nên đã có một số mô hình dự 3 báo thủy văn, trong đó có tính ảnh hƣởng thảm rừng đƣợc tạo ra. Tuy nhiên, sai số của chúng còn lớn do không tính đến đƣợc đầy đủ những nhân tố ảnh hƣởng cụ thể của các nƣớc, các vùng khác nhau. Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Thông mã vĩ hay Thông đuôi ngựa có tên khoa học là Pinus massonniana Lamb, thuộc chi Pinus, họ Pinaceae, từ lâu đã đƣợc nhập trồng rộng khắp trong cả nƣớc.
Thông mã vĩ là loài cây gỗ lớn, có khả năng thích ứng rộng, chịu đựng và sinh trƣởng tốt trên các điều kiện đất đai nghèo xấu, khô hạn. Do có giá trị nhiều mặt nên Thông mã vĩ là một trong những đối tƣợng cây trồng chủ lực trong sản xuất lâm nghiệp ở nƣớc ta. Thông mã vĩ tại rừng trồng thực nghiệm khu vực núi Luốt (trƣờng Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội, trồng năm 1984), cùng với trên 300 loài cây bản địa trồng dƣới tán rất có giá trị cho công tác đào tạo và nghiên cứu, đồng thời là nơi lƣu trữ nguồn gien cây rừng quan trọng cho bảo tồn và phát triển. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy sinh trƣợng của quần thể Thông mã vĩ là không đồng đều, có nhiều cá thể sinh trƣởng nhanh, thân thẳng, dáng đẹp, song cũng xen lẫn với cá thể sinh trƣởng kém, thân cong.
Vì vậy, chọn tìm cây tốt làm giống hay tỉa thƣa cây xấu phục vụ cho bảo tồn và phát triển là khó khăn, vì nhiều kiểu hình tốt chƣa chắc đã phản ánh đúng một kiểu gien tốt do có thể mọc trên địa điểm thuận lợi. Vấn đề đặt ra là có phải nguồn giống ban đầu cho trồng rừng Thông mã vĩ tại khu vực núi Luốt chỉ đƣợc lấy từ một hoặc vài xuất xứ hay không, hoặc chỉ đƣợc lấy từ một vùng sinh thái nào đó có thể bị hẹp về nền tảng di truyền hay mức độ đa dạng di truyền thấp. Mặc dù, đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về nhóm các loài thông, song nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền cho lâm phần Thông mã vĩ tại rừng trồng khu vực núi Luốt thì hiện chƣa có công trình nào công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành. Chính vì vậy, xác định mối quan hệ di truyền giữa các cá thể trong lâm phần rừng trồng Thông mã vĩ, cũng nhƣ mong muốn 4 làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên là lý do mà đề tài nghiên cứu này quan tâm thực hiện.
Do đó, nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền quần thể Thông mã vĩ (Pinus massonniana) tại khu vực núi Luốt là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Thành công của đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp thông tin, cơ sở khoa học với độ tin cậy cao cho công tác chọn giống, bảo tồn, gây trồng và phát triển Thông mã vĩ. Nguyễn Thị Xuân Viên và Trần Duy Hƣng (2013) với nghiên cứu “Đánh giá khả năng sinh trƣởng năm loài cây bản địa trồng dƣới tán rừng Thông mã vĩ (Pinus massiniana) tại Chi Lăng, Lạng Sơn. Trồng rừng bằng phƣơng pháp gieo hạt thẳng cũng đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng cho một số loài.
Theo Lâm Công Định (1964), Hữu Tề (1973) đã trồng Bồ đề (Sryrax tonkinensis), Nguyễn Đình Phúc (1971) trồng Thông nhựa (Pinus merkusii) tại Nghệ An, Lê Hồng (1998) trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana) tại Lạng Sơn. Vũ Văn Thu và Nguyễn Thị Hằng (2012) với đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ bảo quản, tẩy nấm mốc gây biến màu gỗ Thông mã vĩ (Pinus massoniana) ở Lạng Sơn phục vụ sản xuất đồ mộc tiêu dung trong nƣớc và xuất khẩu”. Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng. Đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của rừng giúp chống xói mòn bảo vệ đất, trong đó có công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lung (1998) (dẫn theo Nguyễn Thị Huyền) về tác dụng phòng hộ nguồn nƣớc của một số thảm thực vật chính là ở Tây Nguyên và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nƣớc.
Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1997) với Nghiên cứu về xói mòn đất dưới điều kiện hoạt động canh tác nông nghiệp và một số rừng trồng, Vƣơng Văn Quỳnh (1997) đã Nghiên cứu về xói mòn đất ở vùng nguyên cứu giấy (Huỳnh Văn Lâm, 2012). 5 Các công trình nghiên cứu về tác dụng của rừng chắn cát bay đƣợc nghiên cứu bởi Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, trong đó phải kể đến công trình luận án của Đặng Văn Thuyết (2012).