ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật rừng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, về thành phần loài, về giá trị kinh tế mang lại, cũng nhƣ về giá trị sử dụng rộng rãi trong việc bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng. Theo kết quả điều tra tƣơng đối có hệ thống của Viện Dƣợc liệu bộ Y tế, hiện đã ghi nhận đƣợc ở Việt Nam trên 4.000 loài cây thuốc (2013). Trong đó, gần 80% số loài đã biết là cây thuốc mọc tự nhiên. Phần lớn các loài cây thuốc mọc tự nhiên, lại tập trung chủ yếu trong các quần hệ rừng.
Rừng là môi trƣờng sản sinh và tái tạo ra các loài cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao. Nhiều loài có trữ lƣợng tiềm tàng, lên tới hàng chục hoặc hàng trăm ngàn tấn. Thực tế cho thấy, từ nguồn cây thuốc thiên nhiên ở nƣớc ta, mỗi năm đã cung cấp một khối lƣợng lớn các loại dƣợc liệu, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và xuất khẩu (Đỗ Huy Bích, 2004 và 2013; Triệu Văn Hùng, 2007; Nguyễn Tập, 2007). Tuy nhiên, do khai thác liên tục nhiều năm, cộng với nhiều nguyên nhân tác động khác, đã làm cho nguồn tài nguyên này bị suy giảm nghiêm trọng.
Hầu hết các loài có giá trị sử dụng cao, có trữ lƣợng lớn, đến nay đều đã bị giảm sút, thậm chí không ít loài còn trở nên hiếm gặp. Các loài vốn hiếm gặp, lại bị lùng sục khai thác thƣờng xuyên, hậu quả là đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng, trong đó có cây Cát sâm. Cát sâm là một cây thuốc quý, đƣợc dùng làm thuốc trong y học cổ truyền để làm thuốc bổ, chữa ho, sốt, bí tiểu tiện… Trong rễ Cát sâm chứa chủ yếu là tinh bột và các alcaloid. Khi dùng có thể phơi hoặc sấy khô (Đỗ Tất Lợi, 2004).
Trong khoảng hơn chục năm trở lại đây, các cây thuốc này thƣờng xuyên bị khai thác nhiều tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An… để xuất khẩu qua biên giới và sử dụng trong nƣớc. Do phát động khai thác ồ ạt và không có quy trình khai thác đảm báo tái sinh cho cây, nên nguồn Cát sâm đã bị giảm sút mạnh. Cần có biện pháp kiểm soát và hạn chế 1 khai thác loài cây thuốc này. Đồng thời nghiên cứu để đƣa vào trồng thêm trên diện rộng để góp phần bảo tồn, phát triển tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc một cách chủ động.
Khu BTTN Xuân Liên thuộc tỉnh Thanh Hóa trƣớc đây có nguồn Cát sâm tƣơng đối phong phú, có thể gặp cây phân bố rải rác ở khắp nơi nhƣ Hón Mong, Hón Men, Hón Muội, Hón Trƣờn, Hón Dồn, Hón Răng… Tuy nhiên, cũng do việc khai thác một cách ồ ạt và không kiểm soát đã làm cho nguồn cây thuốc quý này trở nên rất hiếm gặp. Việc khảo sát đánh giá hiện trạng về trữ lƣợng, phân bố và khả năng tái sinh, đánh giá sinh trƣởng của cây Cát sâm tại Khu BTTN là một việc làm cấp thiết, góp phần bảo tồn và phát triển các cây thuốc quý này ngay tại Khu BTTN Xuân Liên. Vì vậy, đề tài “Đánh giá thực trạng phân bố và kỹ thuật gây trồng Cát sâm (Callerya speciosa (Champ.) Schot) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - tỉnh Thanh Hóa”. với mong muốn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của Khu BTTN Xuân Liên nói riêng và toàn cầu nói chung.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm thực vật và khóa phân loại chi Callerya 1. Đặc điểm thực vật chi Callerya Cát sâm (Callerya speciosa (Champ.) Schot) là cây dây leo loại gỗ, cây leo bụi hoặc gần nhƣ cây cao. Lá kèm nhẵn, gần nhƣ rụng sớm.
Lá kép lông chim lẻ, lá kèm nhọn, rụng sớm hoặc không. Lá chét mọc đối hoặc gần đối. Hoa mọc đơn hoặc thành chùy, tập trung ở nách lá hoặc đầu cành, lá bắc ngắn thƣờng rụng sớm, lá bắc phụ gần đài hoặc ở xa cuống, sống dai hoặc rụng sớm, đài ngắn nhọn, tràng nhẵn hoặc có lông mịn bao phủ phía ngoài, cánh cờ hình trứng hay gần tròn, thon hẹp thành móng, cánh bên thƣờng dính ít nhiều với cánh thìa. Bộ nhị 2 bó, nhị của cánh cờ rời với 9 nhị còn lại, nhụy hình cuống.
Quả đậu tự nứt hoặc không vỏ mỏng hoặc dày, quả hơi lồi ở vị trí có hạt. Hạt gần tròn.2 Khóa phân loại chi callerya trong thực vật chí trung quốc 1.1 Tràng không lông: a. Đài, nhụy có lông mịn hoặc lông dài. Lá chét 7, kích thƣớc 4 – 8 1 – 2 cm, đỉnh lá nhọn có đuôi; hoa 1 – 8 cm tràng hoa màu vàng - C.
Lá chét 7 – 13 lá kích thƣớc 4 – 13 1 – 4 cm , đỉnh lá nhọn, hoa 2,5 – 3,5 cm tràng hoa màu trắng, kem, hồng nhạt hoặc tím hoa cà. Lá chét thon, nhọn, mặt trƣớc có lông mịn rụng dần thành nhẵn, noãn nhiều - C. Lá chét có nhiều lông mịn ở cả hai mặt, noãn 4 – 6 - C. Đài có lông mịn, nhụy nhẵn Lá kèm mọc chèn các đốt sần trên thân Đài có lông bao phủ, quả màu đỏ khi khô, hình thuôn kích thƣớc 10–11cm lồi rãnh quả sâu, chùy hoa dài 30 cm - C.
3 Đài có lông bao phủ, quả màu đen khi khô, dẹt dài 15cm, rãnh quả không sâu, chùy hoa dài 10 – 20 - C.reticulata Là kèm không mọc ở nốt sần trên thân Chùy hoa mọc ở phần phân nhánh của thân tràng màu trắng hơi vàng, đài màu hồng, lá nhẵn thuôn dài, khi khô có màu xanh nhạt gân cấp 2 và cấp 3 nổi rõ ở cả 2 mặt lá, đỉnh lá nhọn có đuôi - C. Cánh hoa mọc ở nách lá, rủ xuống, trng hoa có màu trắng hoặc màu tím Lá chét mỏng, xù xì, mặt dƣới có lá màu xanh xám khi khô, gân cấp 2 hoặc cấp 3 hiện mờ không rõ, đỉnh lá nhọn - C. Mặt ngoài tràng có phủ lông mịn a. Lá chét 3 hoặc 5 ─ Không kèm, lá non, lá chét dày - C.
tsui ─ Có lá kèm non, lá chét mỏng - C. Lá chét 5 hoặc 7 ─ Quả mỏng, không nổi rõ vách ngăn giữa các hạt; hạt giống hình hạt đậu. + Chùm hoa thẳng cánh hoa ngắn; hoa đƣợc xếp gần nhau. Tràng hoa màu tím nhạt đến tím đậm; quả hình cuống có lông màu nâu bao phủ phía ngoài, lá chét có hình dạng trứng hoặc hình thuôn; lá kèm con giống hình dùi ,dài 2mm - C.
Tràng hoa màu trắng hoặc màu tím nhạt; quả không có cuống, có màu xám bao phủ ngoài; lá chét có dạng hình elip hoặc hình trứng; móng; lá kèm con mảnh, nhỏ 5 – 6mm - C. + Chùm hoa phân bố không theo quy luật; cánh mảnh các hoa xếp xa nhau Lá chét 5 hoặc 7, đỉnh lá nhọn có đuôi; cuống hoa dài – C. longipeunculat Lá chét 5, đỉnh hơi nhọn có đuôi; chùm hoa gần nhƣ không có cuống - C. ─ Quả bì, thƣờng thắt lại giữa các hạt; hạt hình cầu hay thận.
+ Cánh nhỏ, cuống lá và mặt sau của lá chét phủ đầy lông, không nhẫn, quả phủ lông màu nâu. 4 Lá chét rộng 4 – 8 cm, có phủ lông màu nâu ở mặt sau lá, quả rộng 2 – 2,5 cm – C.3 – 3 cm, có phủ lông màu nâu ở mặt sau lá, quả rộng 1. Cánh nhỏ, cuống lá và mặt sau của lá chét phủ ít lông hoặc nhẵn; quả có phủ lông tơ màu xám, lông màu vàng hoặc lông măng màu xám. Chùm hoa có cuống ngắn, các hoa mọc sát nhau; quả không thắt lại giữa các hạt – C.
Chùm hoa có cuống dài, các hoa mọc cách nhau; quả thắt lại giữa các hạt. Cành mang hoa mảnh; lá chét dạng hình trứng ngƣợc; cuống dài 4mm lá kèm nhỏ dài 4 mm – C. Ở Việt Nam Tên thông thƣờng: Cát sâm Tên gọi khác: Sâm nam, Sâm trâu, Sâm chèo nèo, Sâm gạo,… Đặc điểm sinh vật học: Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Cát sâm đƣợc mô tả là cây dây leo bằng thân cuốn, cành non có lông mềm nhƣ màu nâu, cành già nhẵn, cành non có lông mềm nhƣ nhung màu nâu, cành già nhẵn, rễ củ nạc, vị ngọt mát. Lá kép lông chim lẻ mọc so le, có cuống dài phủ lông dày, lá chét 7 – 17 cái, lá chét hình thuôn, mũi hình giáo thuôn, gốc tròn cỡ 3 – 8 x 1 – 3 cm, hai mặt phủ lông tơ màu trắng gân phụ phân hình mạng lƣới.
Cụm hoa mọc ở đầu cánh hay nách lá, dài 30 cm, cuống hoa và đài đều có lông nhƣng màu nâu, thành chùy dài 10 – 20 cm, lá bắc dạng lá kèm. Hoa to, mọc đơn độc trên đốt trục cụm hoa, màu hoa trắng ngà, dài có răng hình tam giác, mặt ngoài có lông màu trắng nhẵn. Bộ nhị 2 bó, bầu có lông. Quả đậu, dẹt, dài 15 cm rộng 1.5 cm, thắt lại giữa các hạt, có lông nâu phủ lông dày.
Hạt 3 – 6 hình trứng. 5 Phân bố: Rải rác khắp các tỉnh miền núi thấp và trung du, chủ yếu từ Hà Tĩnh trở ra. Nghệ An (Kỳ Sơn, Anh Sơn), Thanh Hóa (Cẩm Thủy, Bá Thƣớc), Ninh Bình (Đồng Giao, Nho Quan), Hà Nam, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên. Đặc điểm sinh học: Cây ƣa sáng và hơi chịu bóng khi nhỏ.
Thƣờng leo chùm lên những cây bụi và cây gỗ nhỏ ven rừng, rùng thứ sinh, nhất là rừng núi đá vôi, độ cao dƣới 1000m. Sinh trƣởng mạnh trong mùa xuân, hè. Ra hoa tháng 4 – 5, quả ra tháng 9 – 10. Tái sinh tự nhiên chu yếu bằng hạt và tái sinh chồi sau khi bị chặt.
Bộ phân dùng và công dụng: ─ Bộ phận dùng: rễ củ, phơi hay sấy khô ─ Thành phần hóa học: Rễ củ chứa ít tinh bột và alcaloid. ─ Công dụng: Dùng trong y học cổ truyền làm thuốc bổ, chữa ho, sốt, bị tiểu tiện, với liều dùng 10 – 20g, dƣới dạng sắc thuốc uống. Thƣờng dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Khai thác chế biến và bảo quản: ─ Phƣơng thức khai thác: Thƣờng khai thác vào mùa thu đông.
Đào rộng xung quanh gốc, lấy hết rễ củ lớn. Rễ củ đƣợc rửa sạch đất cát, gọt bỏ vỏ cắt thành đoạn dài 10 – 15cm bổ dọc thành 4 miếng, bỏ lõi, phơi hay sấy khô. Bảo quản nơi khô ráo thoáng mát. Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn: ─ Cát sâm là cây thuốc quý, thƣờng xuyên đƣợc thu mua.