ĐẶT VẤN ĐỀ Trong bối cảnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị suy thoái, đặc biệt là tài nguyên rừng, những năm gần đây Việt Nam hạn chế mở cửa các khu rừng tự nhiên dẫn đến tình trạng lƣợng cung tài nguyên không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong và ngoài nƣớc. Từ đó, rừng trồng trở thành đối tƣợng đƣợc quan tâm và đầu tƣ phát triển. Tập trung phát triển các vùng rừng trồng nguyên liệu để cung cấp gỗ lớn, nhỏ cho các khu công nghiệp, nhà máy, xƣởng chế biến gỗ, ngoài ra còn phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc và nƣớc ngoài đang mà mục tiêu, phƣơng hƣớng giải quyết ở nƣớc ta. Tập đoàn cây trồng rừng sản xuất gồm các loài cây nhƣ Keo tai tƣợng, Keo lai, Bạch đàn, Bồ đề, Thông, Mỡ, Lát hoa, Trám, Xoan, Giổi, Lim xanh, Dẻ, Chò chỉ, Sao đen,.
Trong đó, Keo và Bạch đàn là hai loài chủ lực với tỷ lệ gây trồng trên 80% diện tích. Đây là những loài mọc nhanh, sinh trƣởng tốt, phù hợp với nhiều lập địa khác nhau, chu kỳ kinh doanh ngắn 6 – 8 năm hoặc 8 – 15 năm tùy mục đích kinh doanh. Từ đó, nhiều công ty, địa phƣơng, đơn vị chủ rừng đã lựa chọn cây trồng này để phát triển trồng rừng kinh tế. Tuy nhiên, trồng rừng kinh tế còn chƣa đƣợc đồng bộ hóa dẫn đến năng suất và chất lƣợng rừng thu đƣợc chƣa cao.
Đây là vấn đề xảy ra ở nhiều nơi và cần có những nghiên cứu, đề xuất nhằm giải quyết tình trạng này. Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng nằm trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ là đơn vị hạch toán của Tổng công ty Giấy Việt Nam; đƣợc giao nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác các loài cây trồng rừng nguyên liệu giấy đáp ứng nhu cầu nguyên liệu và chỉ tiêu kế hoạch của Tổng Công ty giao. Các loài cây đƣợc gây trồng chủ yếu là: Keo tai tƣợng, Keo lai, Bạch đàn. Năm 2010 Công ty đƣợc cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC cho 1.918,93 ha rừng trồng nguyên liệu giấy, sản lƣợng bình quân đạt trên 70m3/ha.
Trong những năm tới, Công ty đề ra mục tiêu ổn 2 định và nâng cao năng suất rừng trồng, phấn đấu đạt đƣợc chứng chỉ FSC trên toàn diện tích. Trƣớc thực tiễn trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá sinh trưởng của một số loài cây trồng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” nhằm đánh giá sinh trƣởng và hiệu quả kinh tế một số lâm phần tại công ty. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu trên thế giới Giống là yếu tố đƣợc quan tâm đầu tiên trong công tác trồng rừng sản xuất.
Theo Eldridge (1993), các chƣơng trình chọn giống cho rừng trồng sản xuất đã bắt đầu thực hiện ở nhiều nƣớc và tập trung chủ yếu vào các loài cây mọc nhanh khác nhau nhƣ Bạch đàn, Keo,. Nghiên cứu về Keo tai tượng Keo tai tƣợng (Acacia mangium) còn có tên gọi khác là keo lá to, keo mỡ; là cây nguyên sản ở phía Bắc Queensland, Australia, ngoài ra còn có ở Irian Jaya, Maluku của Indonesia (Doran và Skelton, 1982) [6]. Keo tai tƣợng phân bố tự nhiên ở phía Bắc Australia, Papua New Guinea, Đông Indonesia. Ngày nay, loài cây này đƣợc mở rộng trồng ở nhiều nƣớc, điên hình nhƣ: Malaixia, Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Nigiêria, Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam, vv.
(Turnbull et al., 1998) Các khảo nghiệm xuất xứ ở một số nƣớc đã cho thấy biến dị di truyền về sinh trƣởng, độ thẳng thân và một số tính chất về cành là rất lớn, đặc biệt có sự khác biệt giữa 3 vùng phân bố tự nhiên khác nhau của Keo tai tƣợng (Papua New Guinea - PNG, Queensland - Qld và North Teritory - NT), cũng nhƣ có sự khác nhau rõ rệt giữa các xuất xứ của cùng một vùng địa lý. Sau này, các nghiên cứu về biến dị di truyền đƣợc chú trọng, nhằm cải thiện các tính trạng sinh trƣởng, chất lƣợng thân cây và tỷ trọng gỗ. Các kết quả đã chỉ ra rằng biến dị di truyền về sinh trƣởng và chất lƣợng thân cây của loài keo này biến động từ thấp tới trung bình (Nirsatmanto & Kurinobu, 2002; Arnold & Cuevas, 2003; Susumu & Rimbawanto, 2004). Nhìn chung, tƣơng quan di truyền giữa sinh trƣởng và chất lƣợng thân cây là tƣơng quan dƣơng (Arnold 4 & Cuevas, 2003), tức là cải thiện sinh trƣởng cũng đồng thời cải thiện chất lƣợng thân cây.
Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã đƣợc đƣa vào thử nghiệm ở nhiều nƣớc vì những khả năng tốt của chúng. Nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippines với 7 loài cho thấy keo tai tƣợng có chiều cao đứng thứ 3 ở cả 2 điểm thí nghiệm (Havmoller, 1989). Năm 1986, trên đảo Hải Nam – Trung Quốc tiến hành khảo nghiệm 20 xuất xứ của 8 loài keo ở tuổi thứ 2.
Trong đó Keo tai tƣợng không nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu. Sau 2 năm tuổi Keo tai tƣợng sinh trƣởng D < 7,4 cm, H < 4,7 m. Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã đƣợc khảo nghiệm tại Thái Lan. Kết quả cho thấy sau 36 tháng tuổi tại 2 điểm thí nghiệm: Tại Ratchaouri, Keo tai tƣợng xuất xứ 13846 xếp thứ 9 có chiều cao 7,2m.
Tại Saitheng, Keo tai tƣợng không nằm trong 10 xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu là vẫn là A. crassicarpa 13683 với chiều cao 18,4m [5]. Nghiên cứu về sinh trƣởng của các loài Keo Acacia và một số loài cây khác trên đất hoang hóa tại nhiều địa điểm ở Ấn Độ của Tewari (1994) đã khẳng định đƣợc tính trội về khả năng chịu hạn của một số loài Keo sinh trƣởng trên đất bạc màu nhƣ: A. Nghiên cứu về Keo lai Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tƣợng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis); đƣợc phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim tại Malaysia năm 1972 trong những hàng cây trồng ven đƣờng và đƣợc Pedkey (1978) nghiên cứu, xem xét các mẫu tiêu bản và xác nhận lại.
Nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) chỉ ra sinh trƣởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, từ đời F2 trở đi, cây sinh trƣởng không 5 đồng đều và kém hơn cả Keo tai tƣợng. Do vậy, hầu hết nguồn giống keo lai đƣợc sản xuất từ cây hom hoặc nuôi cấy mô. Nghiên cứu cũng cho thấy độ đồng đều, độ tròn của thân cây,. đều tốt hơn giống bố mẹ và rất phù hợp với gây trồng thƣơng mại.
Để nghiên cứu sự tăng trƣởng và năng suất của Keo lai ở vùng Caribê Colombia, các phƣơng trình độ nghiêng của khối lƣợng tổng thể và trên mặt đất cộng với sinh khối rễ thô đƣợc lắp phù hợp với đƣờng kính ngang ngực của cây. Kết quả cho thấy Keo lai là một loài rất hứa hẹn cho sản xuất gỗ, loại bỏ lƣợng khí cacbonic trong không khí và phục hồi đất vì nó phát triển rất nhanh thậm chí trên đất bị suy thoái. Các nghiên cứu về Bạch đàn Bạch đàn hay Khuynh diệp có tên khoa học là Eucalyptus, thuộc họ Sim (Myrtaceae), có nguồn gốc từ Australia. Hiện nay, có đến hơn 700 loài Bạch đàn đƣợc ghi nhận, trong đó có một số loài đƣợc tìm thấy ở New Guinea và Indonesia và một ở vùng viễn bắc Philippines và Đài Loan.
Loài cây này đƣợc dẫn giống bằng hạt đem về Việt Nam vào khoảng thập niên 1950 với khoảng 10 loại khác nhau. Bạch đàn có thể trồng tập trung thành rừng hoặc trồng phân tán từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên và cao nguyên [3]. Hàng trăm loài Bạch đàn (Eucalyptus) đã đƣợc khảo nghiệm ở nhiều nƣớc, song chỉ có ít loài và xuất xứ đƣợc chọn để gây trồng rộng rãi. Ở Công Gô, bằng phƣơng pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7.
Ở Brazil đã chọn lọc đƣợc giống Eucalyptus grandis đạt 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, Ở Zimbabwe cũng đã chọn đƣợc giống E.grandis đạt 35-40m3/ha/năm, giống E.urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên tới 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988) [16] 6 Kết quả nghiên cứu của Pandey. D (1983) về loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulansis đƣợc trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô, chu kỳ kinh doanh dài 10 - 20 năm thì năng suất chỉ đạt 5 – 10 m3/ha/năm; nhƣng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30 m3/ha/năm. Nghiên cứu về mật độ trồng rừng Bạch đàn E.deglupta, Julian Evans (1992) cho thấy sau 5 năm, đƣờng kính bình quân tăng tỷ lệ nghịch với mật độ nhƣng tổng tiết diện ngang lại tỷ lệ thuận với mật độ. Điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lƣợng tăng trƣởng đƣờng kính thân cây cá thể cao hơn nhƣng trữ lƣợng lâm phần lại nhỏ hơn trồng với mật độ cao.
[4] Bạch đàn urô có khả năng thích nghi với nhiều lập địa khác nhau và đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ở Bzazil, Bạch đàn trồng thuần loài có thể cho năng suất từ 70 – 90 m3/ha/năm (Zobel et al, 1983).[14] Với cây lai giữa Eucalyptus urophylla x Eucalyptus alba, năng suất rừng ở Pointte - Noire đạt đƣợc 17 - 20 m3/ha/năm; còn ở Loudima đã đạt đƣợc 32 - 35 m3/ha/năm. Kết quả thử nghiệm ở Dongmen - Trung Quốc cho thấy Eucalyptus urophylla cho sản lƣợng tƣơng đối cao. Rừng đƣợc bón phân, sau trồng 4 năm có thể đạt trữ lƣợng 78 m3/ha.
Nghiên cứu ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu Trong những năm qua ở nƣớc ta, bên cạnh những cây bản địa đƣợc gây trồng nhƣ: Mỡ, Thông, Xoan, Lát hoa,. những loài cây mọc nhanh nhƣ các loài Keo, Bạch đàn cũng đƣợc quan tâm và tham gia vào tập đoàn cây trổng rừng công nghiệp. Nhiều nghiên cứu về giống, biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng công nghiệp đƣợc tiến hành nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng rừng.
Công tác cải thiện giống đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu và đạt đƣợc những thành tự đáng kể, công nhận các giống quốc gia và tiến bộ kỹ thuật gồm: Keo: BV10, BV16, BV32, BV5, BV29, BV33, TB6, TB12, KL2, KL20, 7 KLTA3; Bạch đàn: UE24, UC80, UE27, CU91, UE73, UC1, UC2, UE3, UE23, UE33, UC75, CU90, UU8, vv Bên cạnh giống chất lƣợng tốt, thích nghi với lập địa thì các biện pháp kỹ thuật có ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất cũng nhƣ chất lƣợng rừng nói chung và rừng trồng công nghiệp nói riêng.