CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, định nghĩa và phân loại tăng huyết áp.1 Khái niệm về huyết áp Huyết áp (HA) là áp lực máu động mạch do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của lực cản thành động mạch. Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể [15]. Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là huyết áp tâm thu (HATT) hay HA tối đa. Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay HA tối thiểu [39].2 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Định nghĩa tăng huyết áp Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), một người lớn bị tăng huyết áp (THA) thực sự khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) > 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) > 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [39].
THA là một triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân nhưng cũng có thể là một bệnh THA nếu không tìm ra nguyên nhân. Đây không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng và do đó đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau. Định nghĩa về Quản lý Quản lý là đạt được mục đích của tổ chức thông qua lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát các nguồn lực một cách có hiệu quả và hiệu suất [43]. Phân loại tăng huyết áp Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Join National committee) lần thứ VI thì THA được chia như sau [49]: 5 Bảng 1.1: Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI (1997) Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm t rương Phân loại THA (mmHg) (mmHg) Huyết áp tối ưu <120 Và <80 Huyết áp bình thường <130 Và <85 Hoặ Huyết áp bình thường cao 130 - 139 85 - 89 c Hoặ THA Độ 1 140 - 159 90 - 99 c Hoặ THA Độ 2 160 - 179 100 - 109 c Hoặ THA Độ 3 > 180 > 110 c Năm 2003, Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Join National committee) lần thứ VII thì THA được chia như sau [42]: Bảng 1.2: Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII (2003) Phân loại THA HA tâm thu (mmHg) HA tâm t rương (mmHg) HA bình thường < 120 Và < 80 Hoặ Tiền THA 120 - 139 80 - 89 c Hoặ THA giai đoạn I 140 - 159 90 - 99 c Hoặ THA giai đoạn II > 160 > 100 c Theo phân loại của JNC VII: Chỉ số HA bình thường ở JNC VI là < 140/90 mmHg, ở JNC VII hạ xuống còn 120/80 mmHg.
Các chỉ số HA 120 - 139/80 - 89 không còn được coi là HA bình thường mà gọi là tiền THA. THA giai đoạn I vẫn được giữ nguyên là 140 - 159/90 - 99 mmHg. Ở JNC VII bỏ qua khái niệm HA bình thường cao. THA giai đoạn II, III nay được JNC VII gộp lại thành THA giai đoạn II, HATT > 160 mmHg hoặc HATTr > 100 mmHg, vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau rõ ràng và thái độ xử trí thì giống nhau.
6 Năm 2010, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3192/QĐ-BYT “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA”. Theo đó, THA được phân loại như sau [28].3: Phân độ tăng huyết áp của Bộ Y tế Phân độ huyết áp Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm t rương HA tối ưu < 120 Và < 80 HA bình thường 120 - 129 Và/ Hoặc 80 - 84 Tiền THA 130 - 139 Và/ Hoặc 85 - 89 THA độ 1 140 - 159 Và/ Hoặc 90 - 99 THA độ 2 160 - 179 Và/ Hoặc 100 - 109 THA độ 3 > 180 Và/ Hoặc > 110 THA tâm thu đơn độc > 140 Và < 90 Như vậy, phân độ HA của Bộ Y tế Việt Nam (2010) gần giống với JNC VI (1997). Chỉ khác là: ở phân độ HA của bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc HATT > 140 mmHg, HATTr < 90 mmHg. Nguyên nhân tăng huyết áp Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát), nguyên nhân gây THA thứ phát, các yếu tố nguy cơ tim mạch, biến chứng & tổn thương cơ quan đích do THA).
Có rất nhiều YTNC gây THA như: Béo phì, tiền sử gia đình có người THA, uống rượu, tuổi cao, hút thuốc và bệnh THA thứ phát, đây là những trường hợp không có nguyên nhân rõ rệt. THA thứ phát là do hậu quả của một số bệnh khác như bệnh thận, u tuyến thượng thận. Một số nguyên nhân gây THA có thể xác định được: 7 - Các nguyên nhân THA do thuốc hoặc liên quan đến thuốc. - Bệnh thận mãn, hẹp động mạch thận.
- Cường aldosteron tiên phát. THA là một bệnh mà không phải lúc nào cũng tìm ra nguyên nhân. Vì vậy người ta phân ra làm 2 loại: THA nguyên phát: Là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, gọi là bệnh THA. Bệnh THA chiếm tới 90 - 95% trong tổng số người bị THA.
Các nhà khoa học nhận thấy có một số yếu tố tác động, phối hợp gây bệnh và liên quan đến sự hình thành, tiến triển của THA nguyên phát, còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: Ăn mặn, béo phì, uống nhiều rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, ít hoạt động thể lực.các yếu tố trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một bệnh nhân. Càng nhiều yếu tố tác động phối hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ tai biến do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh càng xấu. THA thứ phát: Là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng. Trong các trường hợp THA thứ phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làm cho THA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường.
Một số bệnh dẫn đến hậu quả THA như bệnh: Viêm cầu thận cấp, bệnh thận đa nang, suy thận .một số bệnh nội tiết cũng gây ra THA như: Bệnh u tuyến thượng thận, cương Aldosterone tiên phát, hội chứng cushing’s, hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén [49]. Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh, dấu hiệu thể hiện bệnh THA không có gì khác biệt so với người bình thường. Rất nhiều trường hợp người bệnh đến khi bị biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát tốt THA. Một số biểu hiện có thể có ở bệnh nhân THA như: Đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt.
nhưng không đặc hiệu, một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào nguyên nhân THA hoặc biến chứng của THA.2 Biến chứng của tăng huyết áp 8 1.1 Các biến chứng có thể xảy ra của tăng huyết áp [40]. - Biến chứng tim mạch: Suy tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu khác. - Biến chứng não: Tai biến mạch máu não, đột quỵ, bệnh não do THA. - Biến chứng thận: Đái ra protein; suy thận.
- Biến chứng mạch ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ có thể dẫn đến chết người. - Biến chứng về mắt, tiến triển theo các giai đoạn, thậm chí dẫn đến mù lòa. THA ở người lớn đại đa số là không có căn nguyên, chỉ một số nhỏ dưới 5% là THA có căn nguyên (tức là do hậu quả của một số bệnh lí khác). Do vậy, những dấu hiệu thể hiện bệnh THA không có gì khác biệt so với người bình thường.
Bởi vậy, rất nghiều người bệnh cho đến khi bị các biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ việc khống chế tốt THA là quan trọng như thế nào.3 Chẩn đoán tăng huyết áp 1.1 Phương pháp đo HA: Theo hướng dẫn của JNC VII - 2003[42]. Phương pháp đo HA tại cơ sở y tế Tư thế đo HA + Bệnh nhân nên ngồi yên tĩnh trên ghế có tựa lưng trong 5 phút, tay kê ở mức ngang tim. + Đối với bệnh nhân trên 65 tuổi, tiểu đường hoặc đang dùng thuốc hạ áp, cần kiểm soát sự thay đổi HA theo tư thế bằng cách đo ngay khi và sau khi bệnh nhân đứng dậy 2 phút. + Đo 2 lần, cách nhau 2 phút nếu có THA phải đo lại sau 2 tuần Tình t ạng bệnh nhân + Không uống cà phê 1 giờ trước khi đo + Không hút thuốc 15 phút trước khi đo 9 + Không sử dụng thuốc cường giao cảm (ví dụ: Phenylepherin để chữa xuất tiết niêm mạc mũi hoặc thuốc nhỏ mắt để giãn đồng tử).
+ Bệnh nhân được ở trong phòng ấm, yên lặng. T ang bị + Máy đo thuỷ ngân (ký hiệu LPK2 sản xuất tại Nhật bản), có kiểm định của giám định viên đo lường quốc gia. + Đồng hồ áp kế: Kim chỉ trị số HA phải được điều chỉnh mỗi 6 tháng căn cứ vào một HA kế thuỷ ngân. Phương pháp tiến hành (1) Số lần đo HA + Đo ít nhất 2 lần trong mỗi lần khám, cách nhau hai phút.
Nếu 2 lần đo đầu tiên chênh lệch trên 5mmHg thì đo thêm 1 lần nữa và tính trị số trung bình. + Đầu tiên, nên đo HA cả hai tay; nếu HA chênh lệch, lấy tri số HA ở tay đo cao hơn. + Nếu HA chi trên cao, đo HA hai chi dưới, đặc biệt ở bệnh nhân dưới 30 tuổi. (2) Tiến hành đo + Kích thước của bao quấn phải thích hợp để bảo đảm chính xác.
Túi hơi trong bao quấn phải bao được ít nhất 80% vòng cánh tay. Nhiều người béo, có kích thước vòng cánh tay lớn phải có bao quấn lớn hơn. + HA kế: đặt ngang mức tim. + Bơm nhanh túi hơi vượt trên trị số tâm thu 20 mmHg (được nhận biết bằng sự mất mạch quay).
+ Xả túi hơi 3mmHg/giây. + Khi đo, âm xuất hiện đầu tiên xác định HA tâm thu (pha I) và khi mất âm (pha V) xác định HA tâm trương. + Nếu tiếng Korotkoff khó nghe (quá yếu) bảo bệnh nhân giơ tay lên, nắm và 10 mở bàn tay 5-10 lần, sau bơm nhanh túi hơi.