MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu chung: Ngành xây dựng là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân góp phần vào tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Trong đó xây dựng khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong ngành xây dựng. Tuy nhiên tình trạng chậm tiến độ, vượt chi phí rất phổ biến trong ngành xây dựng nước ta, đặc biệt là khu vực nhà nước gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
Tiến độ chậm ở hầu hết các dự án, công trình được thanh tra dẫn đến chi phí xây dựng tăng, hiệu quả đầu tư thấp. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 770,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 92,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12%; khu vực ngoài Nhà nước 644,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,4%. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 chia theo loại công trình như sau: Công trình nhà ở đạt 333,3 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 128,2 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 219,4 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 89,5 nghìn tỷ đồng. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 626,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2012, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 77,2 nghìn tỷ đồng, giảm 1,4%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 521,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,5 nghìn tỷ đồng, tăng 34,3%.1: Vốn đầu tƣ toàn xã hội thực hiện năm 2013 theo giá hiện hành Cơ cấu So với cùng kì Nghìn tỷ đồng (%) năm trước Tổng số 1091,1 100,0 108,0 Khu vực nhà nước 440,5 40,4 108,4 Khu vực ngoài nhà nước 410,5 37,6 106,6 Khu vực có vốn đầu tư trực 240,1 22,0 109,9 tiếp nước ngoài (Nguồn: Báo điện tử “tạp chí tài chính”) HV: NGUYỄN ĐẮC HƯNG - 11080268 Trang 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định nhưng hoạt động của ngành xây dựng trong năm vẫn còn những tồn tại và gặp khó khăn như: Chủ đầu tư thực hiện không đúng quy trình, thủ tục gây chậm chễ trong thanh toán công trình dẫn đến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu vốn, không đủ sức cạnh tranh.
Tiến độ giải ngân của một số dự án, công trình mặc dù có chuyển biến nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Thời tiết diễn biến phức tạp với mưa lớn kéo dài tại nhiều vùng trên cả nước ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình. Quá trình thanh toán diễn ra chậm là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc chậm tiến độ của nhà thầu trong các dự án. Các công trình sử dụng vốn ngân sách còn bị ảnh hưởng nhiều của việc giải ngân gặp nhiều vướng mắc về cơ chế và do thủ tục rườm rà, phức tạp.
Quá trình thanh toán chậm thường dẫn đến các kế hoạch dòng tiền của nhà thầu ở trong trạng thái bị động, việc thỏa thuận chi trả cho tiền nhân công, vật tư gặp nhiều khó khăn hơn. Điều này dẫn đến việc nhà thầu thường kéo dài tiến độ dự án, làm cho chi phí công trình trình tăng lên và thời gian hoàn thành bị kéo dài. Xác định vấn đề nghiên cứu: Nhằm giúp nhà thầu khi tham gia các dự án dân dụng sử dụng vốn ngân sách, có thể gặp lại các vấn đề trong quá trình thanh toán, tôi đưa ra đề tài “đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách ở các tỉnh phía Nam ” mục đích xây dựng nên bảng nhân tố đánh giá quá trình thanh toán. Ngoài việc đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán, và đồng thời cũng xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này trong quá trình thanh toán của các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách các tình phía Nam.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán giúp cho nhà thầu khi tham gia xây dựng có thể giảm rủi ro có thể gặp trong quá trình thanh toán, những nhân tố nào có thể tránh hay những nhân tố nào chỉ có thể cố gắng khắc phục nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất. HV: NGUYỄN ĐẮC HƯNG - 11080268 Trang 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG 1. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành để đáp ứng những mục tiêu sau: - Xác định các vấn đề ảnh hưởng đến quá trình thanh toán của các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách dựa vào các nghiên cứu trước đây. - Xây dựng các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán thông qua phương pháp phân tích thành tố chính (PCA).
- Xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán cho từng nhóm đối tượng “Chủ Đầu Tư”, “Tư Vấn” và “Nhà Thầu”. - Xác định mức độ phân biệt giữa các bảng xếp hạng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán của các nhóm đối tượng theo kiểm định chi bình phương và hệ số độ phù hợp Kendall. Phạm vi nghiên cứu: Do thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu trong các giới hạn sau Không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện khảo sát đối với các dự án dân dụng xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách ở các tỉnh phía Nam. Thời gian thực hiện: Khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 06 năm 2015.
Góc độ phân tích: Nghiên cứu nhằm giúp cho nhà thầu nhận thấy được các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình thanh toán, từ đó đưa ra được các biện pháp nhằm tránh hoặc khắc phục. Đối tƣợng khảo sát: Các giám đốc dự án, các trưởng tư vấn, lãnh đạo nhà thầu và các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách. Đóng góp của nghiên cứu : Đóng góp của đề tài về mặt học thuật: đề tài góp phần tìm hiểu quá trình thanh toán và đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thanh toán của các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách ở Việt Nam và xem xét mức độ phân biệt giữa các bảng xếp hạng các nhân tố của các nhóm đối tượng khác nhau. HV: NGUYỄN ĐẮC HƯNG - 11080268 Trang 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG Đóng góp của đề tài về mặt thực tiễn: trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, sẽ giúp cho các nhà thầu nhận biết các vấn đề có thể gặp phải khi tham gia các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn ngân sách, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, cũng như đạt được dòng tiền tốt khi tham gia loại dự án này.
HV: NGUYỄN ĐẮC HƯNG - 11080268 Trang 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Khái niệm về dự án đầu tƣ xây dựng công trình: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. (Theo điều 3 Luật xây dựng 2014) Dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là dự án) do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước (sau đây gọi chung là Bộ), các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) và các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là huyện) quản lý; bao gồm cả các dự án đầu tư có nhiều nguồn vốn khác nhau trong đó nếu nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức vốn đầu tư của dự án hoặc nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước không chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức vốn đầu tư nếu các bên thoả thuận về phương thức quản lý theo nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Khái niệm về vốn nhà nƣớc: Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất. (Theo điều 4 Luật đấu thầu 2013) HV: NGUYỄN ĐẮC HƯNG - 11080268 Trang 5 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS NGÔ QUANG TƯỜNG Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Khái niệm về chủ đầu tƣ: 1. Chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án hoặc khi phê duyệt dự án.
Tuỳ thuộc nguồn vốn sử dụng cho dự án, chủ đầu tư được xác định cụ thể như sau: a) Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng; b) Đối với dự án sử dụng vốn vay, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, cá nhân vay vốn để đầu tư xây dựng; c) Đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng dự án, hợp đồng đối tác công tư, chủ đầu tư là doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư thỏa thuận thành lập theo quy định của pháp luật; d) Dự án không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b và c khoản này do tổ chức, cá nhân sở hữu vốn làm chủ đầu tư.