Đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã ân hòa huyện kim sơn tỉnh ninh bình

Chuyên khảo phân tích Đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã ân hòa huyện kim sơn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận
82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về nước thải sinh hoạt

1.1.1. Khái niệm nước thải sinh hoạt

1.1.2. Nguồn gốc nước thải sinh hoạt

1.1.3. Thành phần và tính chất nước thải sinh hoạt

1.1.4. Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt tới môi trường

1.1.5. Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt tới môi trường nước mặt nói riêng

1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước

1.2.1. Chỉ tiêu pH

1.2.2. Chỉ số độ đục

1.2.3. Hàm lượng chất rắn

1.2.4. Hàm lượng oxy hòa tan

1.2.5. Nhu cầu oxy sinh hóa

1.2.6. Nhu cầu oxy hóa học

1.2.7. Tổng hàm lượng Nitơ (T - N)

1.2.8. Tổng hàm lượng phospho (T – P)

1.2.9. Tiêu chuẩn vi sinh

1.3. Thực trạng chất lượng thải nước sinh hoạt tại Việt Nam

1.4. Thực trạng nước mặt tỉnh Ninh Bình

1.4.1. Tiềm năng nguồn nước mặt

1.4.2. Chất lượng nước mặt phục vụ nhu cầu sinh hoạt

1.5. Hiện trạng nước thải sinh hoạt

1.6. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2. CHƯƠNG II: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp

2.4.3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

2.4.4. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

2.4.4.1. Phương pháp xác định nhu cầu oxy sinh hóa ( BOD5)
2.4.4.2. Phương pháp xác định nhu cầu Oxy hóa học (COD)
2.4.4.3. Phương pháp xác định độ pH
2.4.4.4. Phương pháp xác định tổng chất răn rơ lửng (TSS)
2.4.4.5. Xác định thông số Phosphat(NO3-) bằng phương pháp so màu
2.4.4.6. Xác định thông số Nitrat (NO3-) bằng phương pháp so màu quang điện
2.4.4.7. Phân tích Coliform bằng phương pháp màng lọc

2.4.5. Phương pháp nghiên cứu nội nghiệp

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.4.7. Phương pháp bản đồ

2.4.8. Phương pháp so sánh đánh giá

3. CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa chất thủy văn

3.1.3. Tài nguyên, khoáng sản

3.1.4. Tài nguyên đất

3.1.5. Tài nguyên nước

3.1.6. Tài nguyên nhân văn

3.2. Hiện trạng kinh tế xã hội

3.2.1. Sản xuất nông nghiệp

3.2.2. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ xây dựng

3.2.3. Về giao thông xây dựng và nông thôn mới

3.2.4. Vấn đề môi trường

3.2.5. Đặc điểm dân số

4. CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Hiện trạng nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình

4.2. Chất lượng nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình và nước sông tại xã Ân Hòa

4.3. Ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt tới môi trường và sức khỏe con người

4.4. Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt

4.4.1. Phát triển dự án nước sạch

4.4.2. Quy hoạch các hộ gia đình sản xuất

4.4.3. Xây dựng hệ thống thoát nước

4.4.4. Xây dựng hệ thống thu gom, đường dẫn ống nước thải và nhà máy xử lý nước thải tập trung cho xã Ân Hòa

4.4.5. Công tác nâng cao nhận thức người dân và giáo dục truyền thông

KẾT QUẢ - TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Tóm tắt

I. Báo động thực trạng ô nhiễm nước thải tại xã Ân Hòa Kim Sơn

Xã Ân Hòa, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đang đối mặt với một thách thức môi trường nghiêm trọng. Sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh chóng đã tạo ra một lượng lớn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý. Hiện tại, toàn xã có gần 2.200 hộ gia đình, tương đương 7.805 nhân khẩu, nhưng chưa có một hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung nào. Toàn bộ lượng nước thải từ các hoạt động ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân đều được xả thẳng ra môi trường tự nhiên như sông, ao, hồ và các kênh mương nội đồng. Tình trạng này không chỉ làm mất mỹ quan, gây mùi hôi thối khó chịu mà còn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái địa phương. Các con sông chính như sông Duy Hòa và sông Khiết Kỷ đang trở thành những dòng sông “chết”, với màu nước đen kịt, nổi váng và bốc mùi, đặc biệt vào mùa khô. Thực trạng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt tại xã Ân Hòa đã đến mức báo động, đòi hỏi phải có những đánh giá chi tiết và giải pháp can thiệp kịp thời. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về mức độ ô nhiễm, xác định các nguồn thải chính và đánh giá những tác động tiêu cực, từ đó làm cơ sở khoa học cho các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường bền vững tại huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình.

1.1. Tổng quan về nguồn gốc và đặc tính nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt tại xã Ân Hòa có nguồn gốc chủ yếu từ các hoạt động thường ngày của người dân. Theo QCVN 14:2008/BTNMT, đây là nước thải ra từ các hoạt động như ăn uống, tắm giặt, và vệ sinh cá nhân. Lượng nước thải này chiếm khoảng 80% tổng lượng nước cấp cho sinh hoạt. Đặc tính của nó rất phức tạp, chứa khoảng 52% chất hữu cơ (protein, carbohydrate, chất béo) và 48% chất vô cơ. Ngoài ra, trong nước thải còn có sự hiện diện của các chất tẩy rửa, dầu mỡ và một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh, bao gồm vi khuẩn Coliform, E.coli, và các tác nhân gây bệnh tả, lỵ, thương hàn. Các chất hữu cơ này khi phân hủy trong môi trường nước sẽ tiêu thụ một lượng lớn oxy hòa tan, gây ra hiện tượng suy giảm oxy, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các loài thủy sinh. Do đó, việc hiểu rõ nguồn gốc và đặc tính của nước thải sinh hoạt là bước đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm một cách chính xác.

1.2. Hiện trạng quản lý và xả thải tại các hộ gia đình Ân Hòa

Qua khảo sát thực tế tại 3 xóm (xóm 4, xóm 6, xóm 7), có thể khẳng định 100% hộ gia đình tại xã Ân Hòa chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn. Nước thải từ nhà bếp, nhà tắm và khu vệ sinh thường được dẫn chung qua một đường ống và xả trực tiếp ra các mương, rãnh thoát nước hoặc sông, ao gần nhà. Một số hộ gia đình có lắp đặt lưới chắn rác thô sơ để ngăn các chất thải rắn kích thước lớn, tuy nhiên biện pháp này không có khả năng xử lý các chất ô nhiễm hòa tan và vi sinh vật. Theo điều tra, trung bình mỗi người dân tại đây thải ra môi trường khoảng 77,64 lít nước thải mỗi ngày, tương đương hơn 600 m³/ngày đêm cho toàn xã. Việc xả thải không qua kiểm soát này biến các thủy vực tiếp nhận thành nơi tích tụ chất bẩn, phát sinh mầm bệnh và gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng nước ngầm và nước mặt.

II. Phân tích các nguy cơ ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt Ân Hòa

Nước thải sinh hoạt không được xử lý tại xã Ân Hòa đang tạo ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Nguy cơ lớn nhất đến từ các thành phần ô nhiễm đặc trưng. Hàm lượng chất hữu cơ cao, thể hiện qua các chỉ số BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa) và COD (nhu cầu oxy hóa học), khi thải ra nguồn nước sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ này tiêu thụ mạnh mẽ oxy hòa tan (DO) trong nước, dẫn đến tình trạng thiếu oxy, làm chết các loài cá và sinh vật thủy sinh khác. Đồng thời, các hợp chất chứa Nitơ và Phốt pho là nguồn dinh dưỡng dồi dào cho tảo và thực vật phù du phát triển bùng nổ, gây ra hiện tượng “tảo nở hoa”, làm suy giảm chất lượng nước nghiêm trọng. Bên cạnh đó, các chất rắn lơ lửng (TSS) làm nước bị đục, cản trở ánh sáng mặt trời xuống các tầng nước sâu, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh. Nguy cơ về sức khỏe cũng rất đáng lo ngại do sự hiện diện của một lượng lớn vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Coliform, có thể lan truyền các bệnh dịch nguy hiểm qua đường nước như tiêu chảy, tả, lỵ. Những con kênh, mương tù đọng chứa nước thải trở thành nơi sinh sôi lý tưởng cho ruồi, muỗi, và các véc tơ truyền bệnh khác, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh trong cộng đồng.

2.1. Tác động tiêu cực đến môi trường nước mặt và đất

Việc xả thải trực tiếp đã và đang làm suy thoái nghiêm trọng chất lượng nước mặt tại xã Ân Hòa. Nước sông, ao, hồ chuyển sang màu đen, có mùi hôi thối do quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ, sinh ra các khí độc như H2S, NH3. Nồng độ các chất ô nhiễm vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên. Không chỉ môi trường nước, môi trường đất cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Nước thải thấm xuống đất mang theo các chất độc hại, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh, làm ô nhiễm tầng đất mặt và có nguy cơ len lỏi vào nguồn nước ngầm. Nước ngầm bị ô nhiễm là một vấn đề cực kỳ nguy hiểm vì đây là nguồn nước sinh hoạt chính của nhiều hộ gia đình thông qua các giếng khoan. Về lâu dài, ô nhiễm đất sẽ làm giảm độ phì nhiêu, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.

2.2. Rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng và kinh tế địa phương

Môi trường sống bị ô nhiễm trực tiếp đe dọa đến sức khỏe con người. Việc sử dụng nguồn nước mặt hoặc nước ngầm đã bị nhiễm bẩn cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Theo đánh giá của Bộ Y tế, mỗi năm tại Việt Nam có hàng ngàn người tử vong do sử dụng nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém. Trẻ em và người già là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Bên cạnh đó, ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt còn gây thiệt hại về kinh tế. Môi trường nước suy thoái làm giảm sản lượng nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Chi phí khám chữa bệnh do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước cũng là một gánh nặng kinh tế không nhỏ cho các hộ gia đình và xã hội. Cảnh quan môi trường xuống cấp cũng làm giảm chất lượng cuộc sống và tiềm năng phát triển dịch vụ, du lịch của địa phương.

III. Phương pháp khoa học đánh giá ô nhiễm nước thải tại Ân Hòa

Để có được những kết luận chính xác về nguy cơ gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt, một phương pháp nghiên cứu khoa học và bài bản đã được áp dụng. Nghiên cứu kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, từ kế thừa số liệu, khảo sát thực địa đến phân tích trong phòng thí nghiệm. Đầu tiên, phương pháp kế thừa số liệu được sử dụng để tổng hợp các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Ân Hòa, cũng như các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước (QCVN). Tiếp theo, phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp đóng vai trò then chốt. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình tại 3 xóm để tìm hiểu về thói quen sử dụng nước, hình thức xả thải và nhận thức về môi trường. Đồng thời, 11 hộ gia đình được chọn để đo đạc chi tiết lưu lượng nước sử dụng và nước thải hàng ngày. Quá trình lấy mẫu nước được thực hiện một cách cẩn trọng tại 14 vị trí, bao gồm 11 điểm xả thải của các hộ dân và 3 điểm trên sông Duy Hòa (nguồn tiếp nhận), nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Các mẫu sau khi lấy được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ thấp và vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích.

3.1. Quy trình lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

Công tác lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc kỹ thuật. Mẫu nước được lấy tại các ống xả thải và giữa dòng sông bằng chai nhựa Polietylen sạch. Tọa độ các điểm lấy mẫu được xác định chính xác bằng thiết bị định vị toàn cầu (GPS). Sau khi lấy, mẫu được bảo quản trong thùng xốp chứa đá ở nhiệt độ 0-5°C để ngăn ngừa sự biến đổi hóa học và sinh học. Tại Trung tâm Phân tích môi trường - Đại học Lâm nghiệp, các mẫu được phân tích để xác định 7 chỉ tiêu quan trọng: pH, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Nhu cầu oxy hóa học (COD), Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), Phosphat (PO43-), Nitrat (NO3-), và Coliform. Mỗi chỉ tiêu được phân tích theo một phương pháp tiêu chuẩn, ví dụ BOD5 được xác định theo TCVN 6001:1995, COD theo TCVN 6491–1990. Quy trình phân tích khoa học đảm bảo kết quả thu được có độ tin cậy và chính xác cao.

3.2. Công cụ so sánh và đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải

Để đánh giá mức độ ô nhiễm, các kết quả phân tích được so sánh trực tiếp với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành. Cụ thể, chất lượng nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình được đối chiếu với QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (Cột B, với hệ số K=1,2 áp dụng cho khu vực). Chất lượng nước sông (nguồn tiếp nhận) được so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (Cột B1, áp dụng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự). Phương pháp so sánh này cho phép lượng hóa mức độ vượt chuẩn của từng chỉ tiêu, từ đó xác định rõ ràng các thông số ô nhiễm nghiêm trọng nhất và đưa ra cảnh báo chính xác về tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại khu vực nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu Nước thải Ân Hòa ô nhiễm vượt chuẩn

Kết quả phân tích từ 14 mẫu nước đã vẽ nên một bức tranh đáng lo ngại về chất lượng nước tại xã Ân Hòa. Hầu hết các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt đều vượt xa giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT (Cột B). Cụ thể, chỉ số BOD5, đại diện cho lượng chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, có giá trị trung bình rất cao, nhiều mẫu vượt chuẩn từ 3 đến 6 lần. Điều này cho thấy lượng chất hữu cơ trong nước thải là rất lớn, gây áp lực nặng nề lên khả năng tự làm sạch của nguồn nước. Tương tự, chỉ số COD cũng ở mức cao, phản ánh tổng lượng chất hữu cơ (cả dễ và khó phân hủy) đều vượt ngưỡng quy định. Nồng độ Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nhiều mẫu cũng vượt chuẩn, điển hình có mẫu M11 lên tới 5362 mg/l, cao gấp hơn 53 lần so với quy chuẩn (100 mg/l), cho thấy mức độ ô nhiễm vật lý nghiêm trọng. Đặc biệt, chỉ số vi sinh Coliform là đáng báo động nhất. Kết quả phân tích cho thấy mật độ Coliform trong nước thải sinh hoạt lên tới hàng chục triệu đơn vị trên 100ml, vượt hàng nghìn lần so với giới hạn cho phép (5000 MPN/100ml). Những con số này là bằng chứng không thể chối cãi về tình trạng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt tại xã Ân Hòa.

4.1. Phân tích các chỉ số ô nhiễm chính BOD5 COD và TSS

Giá trị BOD5 trong các mẫu nước thải dao động từ 141 mg/l đến 293 mg/l (ngoại trừ mẫu M11 có tính chất đặc biệt), trong khi quy chuẩn cho phép chỉ là 50 mg/l. Giá trị COD dao động từ 120 mg/l đến 360 mg/l. Tỷ lệ BOD5/COD cho thấy nước thải tại đây có khả năng phân hủy sinh học tốt, tuy nhiên nồng độ quá cao khiến nguồn tiếp nhận bị quá tải. Hàm lượng TSS cao không chỉ gây đục nước mà còn là nơi trú ngụ cho các vi sinh vật gây bệnh và có thể lắng đọng dưới lòng sông, gây bồi lắng và ô nhiễm thứ cấp. Kết quả phân tích nước sông Duy Hòa cũng cho thấy dấu hiệu ô nhiễm rõ rệt, với các chỉ số BOD5, CODTSS đều vượt ngưỡng B1 của QCVN 08:2008/BTNMT, khẳng định tác động tiêu cực trực tiếp từ nguồn thải sinh hoạt.

4.2. Mức độ ô nhiễm vi sinh vật Chỉ số Coliform đáng báo động

Chỉ số Coliform là thước đo mức độ ô nhiễm phân. Kết quả phân tích mẫu nước thải cho thấy nồng độ cực kỳ cao, lên tới 92.000.000 MPN/100ml, trong khi quy chuẩn chỉ là 5.000 MPN/100ml. Ngay cả trong nước sông, nồng độ Coliform cũng đạt 32.000 MPN/100ml, vượt hơn 4 lần giới hạn cho phép đối với nước mặt dùng cho tưới tiêu. Sự hiện diện của Coliform với mật độ dày đặc như vậy là minh chứng rõ ràng cho việc nguồn nước đã bị nhiễm bẩn nghiêm trọng bởi chất thải từ người và động vật, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các dịch bệnh lây truyền qua đường nước, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe con người trong cộng đồng dân cư.

V. Top 5 giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt tại xã Ân Hòa

Từ kết quả đánh giá thực trạng và phân tích nguy cơ, việc đề xuất các giải pháp khả thi để giảm thiểu ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt tại xã Ân Hòa là vô cùng cấp thiết. Các giải pháp cần được xem xét một cách tổng thể, kết hợp giữa kỹ thuật, quản lý và nâng cao nhận thức cộng đồng. Trước mắt, cần tập trung vào các biện pháp tại nguồn, dễ áp dụng và chi phí thấp, đồng thời xây dựng lộ trình cho các giải pháp mang tính dài hạn và bền vững. Mục tiêu cuối cùng là kiểm soát được nguồn thải, cải thiện chất lượng nước và bảo vệ sức khỏe con người, góp phần xây dựng nông thôn mới một cách toàn diện. Dưới đây là 5 nhóm giải pháp chính được đề xuất dựa trên điều kiện thực tế của địa phương. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra tác động cộng hưởng, giúp giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Các giải pháp này cần có sự chung tay của chính quyền, các tổ chức và đặc biệt là sự tham gia tích cực của từng hộ gia đình.

5.1. Xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tập trung

Về lâu dài, giải pháp triệt để nhất là đầu tư xây dựng một hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải tập trung cho toàn xã. Hệ thống này sẽ bao gồm mạng lưới đường ống thu gom nước thải từ tất cả các hộ gia đình và cơ sở dịch vụ, dẫn về một nhà máy xử lý chung. Tại đây, nước thải sẽ trải qua các công đoạn xử lý cơ học, sinh học và hóa học để loại bỏ các chất ô nhiễm như BOD5, COD, TSSColiform trước khi xả ra môi trường. Mặc dù đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đây là giải pháp bền vững, giúp giải quyết dứt điểm vấn đề ô nhiễm và đảm bảo chất lượng nguồn nước đầu ra đạt QCVN. Trong khi chờ đợi dự án lớn, có thể triển khai các hệ thống xử lý quy mô nhỏ, theo cụm dân cư, sử dụng các công nghệ phù hợp như bể tự hoại cải tiến, bãi lọc trồng cây ngập nước.

5.2. Áp dụng mô hình xử lý tại chỗ và quy hoạch chăn nuôi

Trước khi có hệ thống tập trung, cần khuyến khích các hộ gia đình áp dụng các mô hình xử lý tại chỗ đơn giản như xây dựng và cải tạo bể tự hoại 3 ngăn đúng tiêu chuẩn kỹ thuật để xử lý sơ bộ nước thải từ khu vệ sinh. Đối với nước thải từ nhà bếp, tắm giặt, có thể áp dụng các hố lọc cát, sỏi hoặc bể lọc sinh học đơn giản. Bên cạnh đó, cần thực hiện quy hoạch lại các khu vực chăn nuôi. Nước thải chăn nuôi phải được thu gom riêng và xử lý bằng hầm biogas để vừa giảm ô nhiễm, vừa tạo ra năng lượng sạch phục vụ sinh hoạt. Việc tách riêng và xử lý sơ bộ nước thải tại nguồn sẽ làm giảm đáng kể tải lượng ô nhiễm đổ vào môi trường chung.

5.3. Nâng cao nhận thức và giáo dục truyền thông cộng đồng

Yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của ô nhiễm nước thải và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Các chiến dịch truyền thông cần được tổ chức thường xuyên thông qua hệ thống loa phát thanh xã, các buổi họp xóm, và các hoạt động của đoàn thể. Nội dung tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào việc hướng dẫn người dân các hành vi thân thiện với môi trường như không vứt rác, đổ dầu mỡ xuống cống rãnh; sử dụng các sản phẩm tẩy rửa sinh học; và tham gia vào các hoạt động vệ sinh môi trường chung. Việc thay đổi thói quen và nâng cao ý thức của cộng đồng là nền tảng vững chắc cho sự thành công của mọi giải pháp kỹ thuật.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nhu cầu thiết yếu của sự sống, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con ngƣời chúng ta. Sự thiết yếu của nƣớc có ở khắp mọi nơi, trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, lĩnh vực trong đời sống, xã hội. Công tác vệ sinh môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng đang là những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu, ngày càng nhiều những thảm họa môi trƣờng, sự cố môi trƣờng không chỉ xảy ra tại một quốc gia hay từng khu vực mà nó có phạm vi trên toàn cầu. Công tác bảo vệ môi trƣờng và vệ sinh môi trƣờng có vị trí, vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, chúng đƣợc đề cập trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nƣớc và chính phủ nhƣ: Nghị quyết trung ƣơng X, Nghị quyết trung ƣơng XI, Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo, Chiến lƣợc quốc gia về Nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn giai đoạn 2000 – 2020 [2].

Sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trƣờng luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Môi trƣờng đƣợc hiểu là các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh có ảnh hƣởng tới con ngƣời và tác động qua lại với các hoạt động sống của con ngƣời nhƣ sinh vật, không khí, đất, nƣớc,. Đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về quản lý, xử lý nƣớc thải sinh hoạt tại Việt Nam nhƣ dùng thực vật: cây thủy trúc, bèo tây… hay các công nghệ tiên tiến hiện đại nhƣ bể UAS , Aerotank… nhƣng với điều kiện kinh tế và phong tục địa phƣơng để thực hiện đƣợc phƣơng pháp trên không phải là điều dễ dàng và không phải vùng nào cũng có thể áp dụng đƣợc. Xã Ân Hòa là xã dẫn đầu trong các phong trào về phát triển kinh tế của huyện Kim Sơn, với số dân đông đúc và quá trình phát triển kinh doanh dịch vụ, sản xuất … đồng nghĩa với việc rác thải, nƣớc thải cũng trở nên nhiều hơn và mất kiểm soát.

Các bãi rác tự phát do các hộ gia đình xả ra, những con sông bốc mùi khó chịu với màu nƣớc xanh ngắt hay tím đen đã là hình ảnh dễ bắt gặp trong toàn xã. Quá trình thu gom rác thải để tập kết đem xử lý tại địa phƣơng đã đƣợc triển khai tuy nhiên hiệu suất xử lý chƣa cao, nƣớc thải chỉ đƣợc xử lý bằng phƣơng pháp vật lý: đặt song chắn rác tại các công trình vệ sinh gia đình mình để thu gom chất thải có kích thƣớc lớn nhằm tránh không bị tắc ống dẫn nƣớc thải. Với lƣợng nƣớc thải của 1 gần 2.200 hộ gia đình xả ra các con sông, ao hồ… thì nguy cơ ô nhiễm đất, không khí, nƣớc mặt và nƣớc ngầm là rất cao. Đó không chỉ là nơi phát sinh những mùi khó chịu, mà còn phát sinh những nguồn bệnh cho con ngƣời.

Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo chất lƣợng cuộc sống và nguyện vọng của bản thân, dƣới sự hƣớng dẫn của ThS.Kiều Thị Dƣơng và ThS.Trần Phúc Đạt, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã Ân Hòa, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” nhằm bổ sung thêm cơ sở lý luận thực tiễn góp phần vào công tác quản lý, bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững nguồn tài nguyên nƣớc. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc thải sinh hoạt 1. Khái niệm nƣớc thải sinh hoạt Theo QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nƣớc thải sinh hoạt: Nƣớc thải sinh hoạt là nƣớc thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con ngƣời nhƣ ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân [14].

Nguồn gốc nƣớc thải sinh hoạt Nƣớc thải sinh hoạt có nguồn gốc từ việc nƣớc đƣợc thải bỏ sau khi sử dụng cho các hoạt động mục đích sinh hoạt của cộng đồng nhƣ: tắm, giặt giũ, vệ sinh cá nhân, tẩy rửa, nấu ăn … chúng thƣờng đƣợc thải ra từ các căn hộ, trƣờng học, bệnh viện, chợ, cơ quan và các công trình công cộng khác. Nƣớc thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% lƣợng nƣớc cấp cho sinh hoạt. Nƣớc thải sinh hoạt thƣờng chứa các tạp chất khác nhau, các thành phần này bao gồm 52% chất hữu cơ, 48% chất vô cơ. Ngoài ra trong nƣớc thải sinh hoạt còn chứa nhiều loài sinh vật gây bệnh và các độc tố của chúng.

Lƣợng nƣớc thải sinh hoạt của một khu dân cƣ phụ thuộc vào dân số, vào tiêu chuẩn cấp nƣớc và địa đặc điểm của hệ thống thoát nƣớc. Tiêu chuẩn cấp nƣớc sinh hoạt cho một khu dân cƣ phụ thuộc vào khả năng cung cấp nƣớc của các nhà máy nƣớc hay các trạm cấp nƣớc hiện có. Tại các trung tâm đô thị thƣờng có tiêu chuẩn cấp nƣớc cao hơn so với vùng nông thôn hay ngoại thành, thế nên lƣợng nƣớc thải sinh hoạt tính trên đầu ngƣời cũng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Lƣợng nƣớc thải sinh hoạt tại các trung tâm đô thị thƣờng có hệ thống thoát nƣớc dẫn ra các sông rạch hay điểm tập kết xử lý nƣớc, còn tại khu vực nông thông và ngoại thành do không có hệ thống thoát nƣớc nên nƣớc thải thƣờng đƣợc tiêu thoát tự nhiên ra các ao hồ, hoặc bằng các biện pháp tự thấm [12].

Thành phần và tính chất nƣớc thải sinh hoạt Thành phần và tính chất của nƣớc thải sinh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nƣớc thải, còn lƣợng nƣớc thải ít hay nhiều thì lại phụ thuộc vào thói quen sinh hoạt của con ngƣời. 3 Dựa vào thành phần nƣớc thải sinh hoạt chia làm 2 loại: - Nƣớc thải nhiễm bẩn do chất bài tiết con ngƣời từ các phòng vệ sinh. - Nƣớc thải nhiễm bẩn do các chất sinh hoạt: cặn bã, dầu mỡ từ các nhà bếp của các nhà hàng, khách sạn, các chất tẩy rửa, nhà rửa vệ sinh, sàn nhà… Đặc tính và thành phần tính chất của nƣớc thải sinh hoạt từ các khu phát sinh nƣớc thải này đều giống nhau, chủ yếu là các chất hữu cơ, trong đó phần lớn các loại carbohydrat, protein, lipid là các chất dễ bị vi sinh vật phân hủy. Khi phân hủy thì vi sinh vật cần lấy oxi hòa tan trong nƣớc để chuyển hóa các chất hữu cơ trên thành CO2, N2, H2O, CH4… Chỉ số BOD5 biểu diễn lƣợng oxi cần thiết mà vi sinh vật phải tiêu thụ để phân hủy lƣợng chất hữu cơ có trong nƣớc thải theo đó chỉ số BOD5 càng cao cho thấy chất hữu cơ có trong nƣớc thải càng lớn, oxi hòa tan trong nƣớc thải ban đầu bị tiêu thụ nhiều hơn, mức độ ô nhiễm của nƣớc thải cao hơn.

Nồng độ chất hữu cơ trong nƣớc sinh hoạt dao động trong khoảng 150 – 450 mg/l theo trọng lƣợng khô. Có khoảng 20 - 40% chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học. Ở những khu dân cƣ đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nƣớc thải sinh hoạt không đƣợc xử lý đúng quy chuẩn là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng [6]. Ảnh hƣởng của nƣớc thải sinh hoạt tới môi trƣờng Nƣớc thải ảnh hƣởng đến môi trƣờng do các thành phần ô nhiễm tồn tại trong nƣớc thải gây ra: ♦ pH: pH ảnh hƣởng đến sự phát triển của các vi sinh vật, nhƣ chúng ta đã biết môi trƣờng thuận lợi nhất để vi khuẩn phát triển có pH từ 7- 8.

Nƣớc thải sinh hoạt có pH dao động trong khoảng 6,9 – 7,8. Các nhóm vi khuẩn khác nhau có giới hạn pH hoạt động khác nhau nhƣ vi khuẩn lƣu huỳnh tồn tại trong môi trƣờng có pH từ 6,5 – 9,3. Ở các mức pH khác nhau thì các nhóm vi khuẩn có thể tạo ra các chất khác nhau nhƣ lúc pH giảm xuống tới pH 5,5-6,0 vi khuẩn thƣơng hàn (Salmonella typimurium) và vi khuẩn đại tràng (Escherichia coli) có thể tổng hợp ra một loạt các protein mới và đƣợc gọi là một phần của đáp ứng chống chịu axit. ♦ COD, BOD: Sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lƣợng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hƣởng tới hệ sinh thái môi 4 trƣờng nƣớc.

Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm nhƣ H2S, NH3, CH4… làm cho nƣớc có mùi hôi thối và giảm pH của môi trƣờng. ♦ Chất rắn trong nƣớc thải: Chất rắn trong nƣớc thải bao gồm các chất rắn lơ lửng, chất rắn có khả năng lắng, các hạt keo và chất rắn hòa tan. Chất rắn lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí.

♦ Nhiệt độ: Nhiệt độ của nƣớc thải sinh hoạt thƣờng không ảnh hƣởng đến đời sống của thủy sinh vật nƣớc. ♦ Vi sinh vật, trùng gây bệnh: Gây ra các bệnh lan trƣyền bằng đƣờng nƣớc nhƣ tiêu chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da… ♦ Amoniac, Phốt pho: Đây là những nguyên tố dinh dƣỡng đa lƣợng. Nếu nồng độ trong nƣớc quá cao dẫn đến hiện tƣợng phú dƣỡng hóa. ♦ Màu: Độ màu của nƣớc thải là do các chất thải sinh hoạt, nó có thể làm cản trở khả năng khuếch tán ánh sáng vào nguồn nƣớc gây ảnh hƣởng đến khả năng quang hợp của hệ thủy sinh thực vật, nó còn làm mất đi mỹ quan của nguồn nƣớc và các vùng lân cận.

♦ Dầu mỡ: Gây mùi, ngăn cản khả năng khuếch tán oxy trên bề mặt. ♦ Mùi: Gây cảm giác khó chịu. Hợp chất gây mùi đặc trƣng nhất là hydrosulfua (H2S – mùi trứng thối) 1. Ảnh hƣởng của nƣớc thải sinh hoạt tới môi trƣờng nƣớc mặt nói riêng Tại các thành phố lớn, lƣợng nƣớc thải chƣa qua xử lý của hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp xả thẳng ra môi trƣờng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trƣờng nguồn nƣớc.

Ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc cũng không ngừng gia tăng. Theo thống kê, có 76% số dân đang sinh sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con ngƣời và gia súc không đƣợc xử lý nên thấm xuống đất hoặc rửa trôi làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao [16]. ên cạnh đó, việc lạm dụng các chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến các nguồn nƣớc ở sông, hồ, kênh, mƣơng bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng và sức khoẻ của con ngƣời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ