Đặt vấn đề Nền kinh tế Việt Nam chủ yếu vẫn là nền kinh tế nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp nƣớc ta đang phát triển theo xu hƣớng chuyển đổi cơ cấu từ trồng trọt sang chăn nuôi để tăng giá trị kinh tế. Chăn nuôi đã là nguồn thu nhập chính của các nông hộ ở nhiều vùng miền trong cả nƣớc. Phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc nhai lại đã đem lại nhiều hiệu quả kinh tế.
Cùng với sự phát triển của đàn gia súc trong cả nƣớc thì mối bận tâm hàng đầu là nền tảng thức ăn cho chăn nuôi làm sao để phát triển bền vững ngay trong từng nông hộ. Thực tiễn cho thấy, thức ăn tốt nhất cho gia súc nhai lại là cỏ xanh. Thức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thay thế với gia súc ăn cỏ nhƣ: Trâu, bò, dê, cừu, thỏ, nhím, hƣơu, nai. Với nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh của trâu, bò; 5 - 7 kg/ngày ở dê, cừu, hƣơu, nai; 3 - 5 kg/ngày ở thỏ, nhím [15].Là bài toán khá phức tạp với chăn nuôi của nông hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do diện tích đồng cỏ ngày càng bị thu hẹp và kém hiệu quả.
Nƣớc ta có nhiều đồng cỏ tự nhiên phân bố khắp cả nƣớc. Những đồng cỏ này không có sự chăm sóc của con ngƣời nên sản lƣợng cỏ không cao. Mặt khác do sự chăn thả quá mức của con ngƣời nên các đồng cỏ đang dần bị tàn phá, bị sa mạc hoá, diện tích giảm nhanh. Bên cạnh đó, Việt Nam vốn chƣa có một đồng cỏ chăn nuôi nào đúng nghĩa của nó, mà chăn nuôi chủ yếu là tận dụng chăn thả tự nhiên nên hiệu quả chăn nuôi còn thấp.
Với thực trạng này, để chủ động nguồn cỏ phục vụ chăn nuôi thì giải pháp tốt nhất cho các nông hộ chăn nuôi trâu, bò với số lƣợng lớn là phải trồng cỏ. Trồng cỏ mới có đủ số lƣợng thức ăn để phát triển mạnh ngành chăn nuôi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 1 Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã tiến hành trồng nhiều giống cỏ cao sản nhập nội từ nƣớc ngoài và đã đem lại kết quả tốt. Có nhiều giống cỏ rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam.
Nhƣng cũng có nhiều giống cỏ bị thoái hoá, đa phần là chất lƣợng không cao, vật chất khô và protein thấp. Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, hệ thực vật rất phong phú, có nhiều loài cỏ tự nhiên có chất lƣợng tốt, năng suất tự nhiên cũng khá cao, dễ trồng, tái sinh nhanh và không tàn lụi trong mùa đông. Cùng với nhiều cây trồng đƣợc khai thác làm thức ăn gia súc, hiện nay có loài cỏ Mật (cỏ Dày hoặc cỏ Thừng) đã đƣợc đƣa vào trồng và khai thác làm thức ăn gia súc hai năm gần đây tại tỉnh Bắc Ninh. Để góp phần đánh giá đặc điểm sinh thái, sinh học của nó, đặc biệt là năng suất và chất lƣợng, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trồng loài cỏ này tại tỉnh Tuyên Quang.
Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành trồng thử nghiệm một loài cỏ mới, rất phổ biến ở miền núi, có năng suất cao và chất lƣợng tốt, đó là cây cỏ Lau. Chúng tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần nội hoá các giống cỏ trồng làm thức ăn gia súc của Việt Nam. Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm đề tài: "Đánh giá năng suất, chất lượng và khả năng khai thác hai loài cỏ có nguồn gốc tự nhiên tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang". Mục tiêu của đề tài - Xác định đƣợc năng suất, chất lƣợng của hai giống cỏ này ngoài tự nhiên và trong điều kiện trồng trọt tại tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác hai loài cỏ này trong chăn nuôi gia súc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Cỏ hoà thảo và đặc tính sinh thái, sinh học của chúng Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ Hoà thảo (Gramineae) hay họ Lúa (Poaceae). Họ Hoà thảo có 700 chi và từ 8.000 loài phân bố khắp trái đất.
Cây hoà thảo có giá trị quan trọng nhất trong tất cả thực vật. Chúng là thức ăn chủ yếu của con ngƣời, làm cơ sở chủ yếu cho ngành chăn nuôi. Hơn một nửa sản phẩm đƣờng của thế giới lấy từ mía. Giá trị của nó đặc biệt lớn lao ở các vùng thảo nguyên, ở đó Hoà thảo thƣờng chiếm hơn 80 - 90% toàn bộ số cỏ thu hoạch.
Cỏ Hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng nhƣ các vùng đất đai khác nhau. Một số loài có thể sinh trƣởng đƣợc ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình từ 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhƣng chúng vẫn sinh trƣởng và phát triển tốt nhƣ: Cỏ Xƣơng cá, cỏ Lông đồi (Eulalia), cỏ B. Một số loài cỏ lại sinh trƣởng đƣợc ở những vùng đất ẩm thấp, độ ẩm lớn từ 60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhƣng chúng vẫn sinh trƣởng bình thƣờng nhƣ: Cỏ Paspalum atratum, cỏ Đuôi bò (Festuca rubra), cỏ Đuôi mèo (Pleuin pratense). Có loài sống đƣợc ở cả những nơi đất ngập nƣớc, đất lầy thụt nhƣ: Cỏ Môi (Leersia hexandra), cỏ Bấc (Juncus effusus), cỏ Lồng vực (Echinochloa crusgalli).vv Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm sinh thái của các loài cỏ mà ta có thể chọn và trồng những loài cỏ nào đó thích nghi với những điều kiện có khí hậu và thổ nhƣỡng tƣơng tự nhƣ vùng gốc của chúng.
Cỏ Hoà thảo có thân hình tròn hay bầu dục, lá mọc thành hai dãy. Rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là hoa lƣỡng tính. Căn cứ vào hình dáng thân và đặc điểm sinh trƣởng của chúng, ngƣời ta chia cỏ Hoà thảo thành các loại sau: * Loại thân rễ: Thân luôn nằm dƣới mặt đất và chia nhánh ở dƣới mặt đất, đại diện là cỏ Tranh. Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thƣa, độ che phủ thấp, thích hợp chăn thả nhẹ, không chăn thả gia súc quá đông và lâu vì cỏ này không chịu đƣợc giẫm đạp và vùng đất dí chặt.
* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh, thân rễ ngắn mọc đứng tạo thành bụi nhƣ khóm lúa. Nhánh có thể đƣợc sinh ra dƣới mặt đất hoặc trên mặt đất. Cỏ này thƣờng có năng suất cao nhƣng đòi hỏi đất phải tơi xốp và thoáng khí. Do tốc độ đẻ nhanh, cao nên đòi hỏi phải trồng thƣa, có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả.
Đại diện là các loài cỏ nhƣ: Cỏ Mộc Châu, Paspalum atratum, Ghinê TD58, Tây Nghệ An, cỏ Lồng vực .vv * Loại thân bò: Cỏ này thƣờng nhỏ và mềm nên thƣờng nằm ngả trên mặt đất, từ các đốt có khả năng (hoặc không) đâm rễ xuống mặt đất. Do thân bò và nằm ngả trên mặt đất nên tạo thành thảm cỏ dày che phủ kín mặt đất. Cỏ này có khả năng chịu giẫm đạt tốt nên có thể dùng để chăn thả, hay thu cắt làm cỏ khô. Tuy nhiên, do đặc tính là thân bò nên khó thu cắt và năng suất thấp hơn so với các loài cỏ khác.
Đại diện của chúng là cỏ Panggôla (Digitaria decumbens), cỏ Lông Para (Brachiaria multica), cỏ Lông đồi (Ischaenum indicum), cỏ Mật (R. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 * Loại thân đứng: Đây là những loại cỏ mọc mầm từ phần gốc ở dƣới đất hoặc hom trồng, mầm vƣơn thẳng, thân cao, to nên cho năng suất cao. Đại diện nhƣ cỏ Voi, cỏ Lau. Đặc tính sinh lý * Nhu cầu về nước Cỏ Hoà thảo yêu cầu nƣớc cao, hệ số toả hơi nƣớc lớn hơn cỏ họ Đậu.
Hệ số toả hơi nƣớc vào khoảng 400 - 500. Lƣợng nƣớc bốc hơi (g) Hệ số toả hơi nƣớc = Lƣợng vật chất khô tạo ra Độ ẩm yêu cầu theo giai đoạn: + Từ nảy mầm đến chia nhánh: 25 - 30% + Giai đoạn phát triển nhánh: 75% Cuối thời kỳ sinh trƣởng nhu cầu nƣớc giảm dần. * Nhu cầu về dinh dưỡng Cỏ Hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm (N), lân (P), kali (K). Nhu cầu về N, P, K tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của cỏ.
+ Giai đoạn I (Từ nảy mầm tới phân nhánh): Cần nhiều N, P, K. + Giai đoạn II (Phân nhánh) : Cần nhiều N, P. + Giai đoạn III (Ra hoa, hình thành hạt): Cần nhiều P, K. Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lƣợng phân bón càng lớn, đồng thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối mùa thu đầu mùa đông.
* Nhu cầu về không khí Các loại cỏ thuộc thân đứng, thân bụi, thân rễ chia nhánh dƣới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Các loại cỏ thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu đƣợc đất kém thoáng khí và có độ ẩm thấp hơn. Đặc tính sinh trưởng Theo David W. Pratt 1993 [44], thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi năng lƣợng mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận chúng, tuy nhiên sử dụng năng lƣợng từ lá lại phụ thuộc vào những chu kỳ phát triển của cây.
Các giống cỏ nói chung và cỏ Hoà thảo nói riêng, sinh trƣởng và tái sinh qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng. * Giai đoạn I Đây là giai đoạn cỏ mới gieo trồng hay sau khi cây cỏ mới đƣợc thu cắt, tốc độ sinh trƣởng chậm vì diện tích quang hợp nhỏ. Cây cỏ ở trong giai đoạn I sinh trƣởng rất chậm, lá vô cùng ngon và có giá trị dinh dƣỡng cao nhƣng số lƣợng ít. * Giai đoạn II Cỏ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay chăn thả 10 - 15 ngày tới 35 - 40 ngày.
Cỏ bƣớc vào thời gian phát triển nhanh nhất. Trong giai đoạn này, lá chứa hàm lƣợng protein cao và thoả mãn nhu cầu các chất dinh dƣỡng cho gia súc. Cỏ có chất lƣợng dinh dƣỡng cao và có số lƣợng lớn. * Giai đoạn III Cỏ sau khi gieo trồng hoặc sau khi thu cắt hay chăn thả khoảng 40 - 70 ngày.
Ở giai đoạn này cỏ sinh trƣởng chậm dần rồi ngừng hẳn.