Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, cung cấp lương thực thực phẩm, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một nhóm tài nguyên quan trọng của Việt Nam. Trước đây LSNG thường được coi như nguồn lâm sản thứ yếu, lâm sản phụ của rừng, nó gần như được coi là nguồn lâm sản mở cung cấp lương thực, thực phẩm, tinh dầu, nhựa dính, tananh, dược liệu.
Hiện nay, vai trò của LSNG đã được chính phủ và ngành lâm nghiệp Việt Nam đánh giá đúng mức. Ngoài giá trị to lớn về kinh tế LSNG còn có giá trị quan trọng về mặt xã hội, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường, nhất là với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong quá trình phát triển, loài người đã biết sử dụng những sản phẩm của rừng mà đặc biệt là thực vật rừng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Sự tích luỹ kinh nghiệm khiến cho con người hiểu rõ hơn về tác dụng của các loài thực vật rừng, từ đó chọn lọc và sử dụng chúng trong các hoạt động đời sống.
Tuỳ từng đất nước, dân tộc, cộng đồng mà các loài cây, các bộ phận của cây được sử dụng theo những mục đích khác nhau, tác dụng khác nhau. Các loài thực vật dễ dàng được thu hái trong rừng, không tốn nhiều công sức để tìm kiếm và do chưa ý thức được hết về giá trị của các loài LSNG, sự tái sinh tự nhiên, sự bảo tồn đa dạng sinh học mà người dân đã khai e 2 thác bừa bãi, tận thu, không đảm bảo tái sinh, dần làm mất đi nhiều loài thực vật quý. Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống đặc biệt là các dân tộc ở vùng núi. Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với tự nhiên, mỗi dân tộc đã hình thành cho mình một kho tàng kiến thức riêng, đặc sắc và phong phú về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống.
Đặc biệt phải kể đến là ẩm thực dân tộc nó tạo nên sự độc đáo, bản sắc và một nét văn hóa riêng cho từng vùng miền, từng dân tộc, trong đó gia vị là thứ quyết định làm nên sự khác biệt đó. Tuy nhiên, hầu hết chúng chỉ được lưu truyền trong nội bộ các cộng đồng riêng lẻ. Trong số đó có rất nhiều tri thức kinh nghiệm có thể sử dụng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân. Theo quá trình phát triển của đất nước sự tích luỹ về kiến thức, kinh nghiệm quý báu này đang dần bị mai một và lãng quên.
Khâu Tinh là một xã khó khăn của huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang, là một trong bốn xã nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Người dân chủ yếu là dân tộc H’mông, Dao và Tày sinh sống với tập quán du canh, địa hình đồi dốc khó dẫn nước cho nông nghiệp, lúa chỉ cấy được một vụ không đủ cho nhu cầu về lương thực nên người dân vẫn thường xuyên phá rừng làm nương rẫy. Ở đây vẫn còn hệ sinh thái rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh trên núi đá vôi, núi đá và núi đất. Dẫn đến nguồn tài nguyên rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây làm gia vị có giá trị cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững tài nguyên cây gia vị là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây gia vị của các cộng đồng dân địa phương tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Phát hiện được từ cộng đồng các loài thực vật được khai thác, sử dụng làm gia vị. - Xác định được kinh nghiệm của đồng bào dân tộc trong việc khai thác và sử dụng các loài cây làm gia vị. - Lựa chọn được các loài cây gia vị có giá trị kinh tế, quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở lựa chọn có sự tham gia của người dân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác bền vững các loài thực vật được người dân sử dụng làm gia vị. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. Đây là điều kiện tốt để sinh viên tiếp xúc và học hỏi kiến thức, kinh nghiệm ngoài thực tế, giúp sinh viên có một phương pháp làm việc khoa học gắn liền với thực tiễn sản xuất.
Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài góp phần nghiên cứu và đánh giá về hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật lâm sản ngoài gỗ để làm gia vị, nắm bắt được các loài thực vật có giá trị kinh tế, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tri thức bản địa. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học nghiên cứu Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa tri thức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học. Tri thức bản địa đã và đang góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa.
Hiện nay, trong nước và trên thế giới đã và đang sử dụng các loài thực vật rừng làm gia vị. Các loài cây được thu hái và sử dụng dựa trên cơ sở từ những kinh nghiệm kiến thức tích lũy qua nhiều thế hệ, cho đến ngày nay những kiến thức này đang có nguy cơ mai một. Do đó gìn giữ vốn kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong việc sử dụng các loài thực vật rừng làm gia vị là việc hết sức cần thiết. Gia vị, theo định nghĩa của các nhà khoa học và sinh học, là những loại thực phẩm, rau thơm (thường có tinh dầu) hoặc các hợp chất hóa học cho thêm vào món ăn, có thể tạo những kích thích tích cực nhất định lên cơ quan vị giác, khứu giác và thị giác đối với người ẩm thực.
Gia vị làm cho thức ăn có cảm giác ngon hơn, kích thích hệ thống tiêu hóa của người ăn khiến thực phẩm dễ tiêu hóa, đồng thời có thể chế hóa theo những nguyên lý tương sinh, âm dương phối triển đối với các loại thực phẩm đặc biệt. Một số khái niệm về tri thức bản địa Khái niệm tri thức bản địa được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng. Mặc dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng tri thức bản địa được nghiên cứu luôn là một hệ thống các tri thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương, liên quan đến cách thức cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. e 5 Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge) hay tri thức địa phương (Local Knowledge) dùng để chỉ những thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên.
Đó là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết tri thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những tri thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội. Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại. Tri thức bản địa là hệ thống thông tin làm cơ sở của một hệ thống xã hội, được làm thuận tiện trong sự truyền đạt thông tin và ra quyết định.
Hệ thống thông tin bản địa là động lực và sự tác động liên tục bởi sự sáng tạo từ nội lực, sự thực nghiệm, cũng như sự giao diện với hệ thống bên ngoài (Theo Flavier và ctv. Theo Johnson, 1992, tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẻ với thiên nhiên trong một vùng nhất định. Nói một cách khái quát, tri thức bản địa là những tri thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương (Theo Langil và Landon, 1998) [16]. Ngày nay, tri thức bản địa được xem như là một trong những vấn đề then chốt trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và sự cân bằng trong phát triển (Theo Brokensha và ctv., 1980; Compton, 1989; Gupta, 1992; Niamir, 1990; Warren, 1991a) [17].
e 6 Các khái niệm về tri thức bản địa (local indigenous knowledge) hàm ý không chỉ là phần cứng hay ảnh hưởng và ứng dụng của kỹ thuật như chăm sóc sức khỏe gia súc, mà còn có phần mềm, đó là các hệ thống quản lý gia súc và cấu trúc xã hội, cấu trúc nhóm đã tạo nên chúng (Theo Mathias-Mundy và McCorkle, 1992) [17]. Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về LSNG: Theo W.