Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Các khái niệm về hoạt động khai thác - Khai thác mỏ: là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat.
Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ. Khai thác mỏ theo nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo như: dầu mỏ, khí thiên nhiên hoặc thậm chí cả nước. - Hoạt động khai thác đá: là một loại hình khai thác khoáng sản lộ thiên các loại đá hay khoáng. Khai thác đá thường cung cấp nguồn vật liệu cho xây dựng như các loại đá có kích thước lớn như đá hộc, đá vôi, đá ong, đá hoa cương …Ngoài ra, còn cung cấp cho các ngành chế tác, mỹ nghệ các sản phẩm từ đá như đá lát, đá tạc tượng… (theo Wikipedia).
Các loại đá được khai thác từ mỏ đá bao gồm: đá phấn(chalk), đá phấn sét/cao lanh(chalk clay), đá bọt (clinder), cát(sand), sỏi(gravel), đá granit(granite), đá vôi (limestone), thạch cao (gypsum), đá cẩm thạch(marble), đá phiến(slate), sa thạch(slate) và các loại quặng(ores). Nhiều loại đá như đá cẩm thạch(marble), đá granite(granite), đá vôi(limestone), đá sa thạch(sandstone) sau khi khai thác được cắt thành các tấm lớn. Bề mặt đá được gia công với các mức độ khác nhau và được sử dụng trong các ngành khác nhau, đặc biệt là trong xây dựng vì có độ bền cao, do đó vừa là mặt hàng hấp dẫn đồng thời là vật liệu được ưa chuộng sử dụng. Khái niệm môi trường - Môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Con người sống trên Trái đất, nên môi trường của loài người chính là không gian bao quanh Trái đất, có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong Địa lí học, người ta gọi đó là môi trường xung quanh hay môi trường địa lí [9]. - Môi trường tự nhiên: Bao gồm các thành phần của tự nhiên: Địa hình, địa chất, đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật. Môi trường tự nhiên xuất hiện trên bề mặt Trái đất không phụ thuộc vào con người.
Con người tác động vào tự nhiên, làm cho nó bị biến đổi, nhưng các thành phần của tự nhiên vẫn phát triển theo quy luật riêng của nó [9]. - Môi trường sống của con người, tức là hoàn cảnh bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển và chất lượng cuộc sống của con người. Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên (địa hình, địa chất, đất, khí hậu, nước, sinh vật), môi trường xã hội (quan hệ xã hội trong sản xuất, trong phân phối, trong giao tiếp), môi trường nhân tạo (các đối tượng lao động do con người sản xuất ra và chịu sự chi phối của con người) [9]. Môi trường có ba chức năng chính là: không gian sống của con người, nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên, nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra, do vậy, con người có thể làm nâng cao hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường, chính điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của xã hội loài người [9].
- Ô nhiễm môi trường tự nhiên là sự làm thay đổi tính chất vật lí, hóa học. của môi trường bởi các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm là những chất độc hại được thải ra trong quá trình sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hay trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng, hoặc các chất khác [9].
11 - Suy thoái môi trường tự nhiên là sự làm thay đổi chất lượng, số lượng của các thành phần tạo ra môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên [9]. - Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên gây suy thoái môi trường nghiêm trọng gồm: bão lụt, hạn hán, sạt lở đất, hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kĩ thuật gây nguy hại đến môi trường của cơ sở sản xuất kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật [12]. - Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ 20, điển hình có khái niệm do tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) đưa ra: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng đến sự phát triển kinh tế mà phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” [11]. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 qua báo cáo Brundtland (còn gọi là báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED.
Báo cáo này ghi rõ Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng những nhu cầu trong tương lai…” [11]. Hội nghị môi trường toàn cầu tại Rio de Janerio (6/1992) đưa ra khái niệm: "Phát triển bền vững nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế." Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới và phát triển bền vững nhóm họp với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết và đưa ra quyết sách liên quan đến các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. 12 Phát triển bền vững hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa…riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó, nhằm đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn. Khái niệm quan trắc môi trường Quan trắc môi trường là một quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của các thành phần môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường [25].
Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Như vậy, hoạt động quan trắc môi trường sẽ thực hiện các nhiệm vụ gồm: Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường; Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng trọng điểm được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường; Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Và để có kết quả quan trắc môi trường thì các cá nhân, tổ chức phải xây dựng được kế hoạch quan trắc môi trường. Kế hoạch quan trắc môi trường là một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm, tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bị, phương pháp phân tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện.
13 Và trên cơ sở kết quả quan trắc có được, ta sẽ tiến hành phân tích, đánh giá hiện trạng, chất lượng môi trường tại nơi khảo sát như môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất, môi trường sinh thái, cảnh quan.Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên Hoạt động khai thác khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên. Nhiều khu vực khai thác mỏ đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm nguồn nước do nước thải của mỏ trong quá trình sản xuất không được xử lý. Thành phần và tính chất nước thải thường có tính a xít, có chứa kim loại nặng, khoáng chất…Kết quả quan trắc quí I,II năm 2009 tại Quảng Ninh cho thấy độ pH của nước thải mỏ than dao động từ 3,1 - 6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 - 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt hơn 8 lần… Nước thải mỏ phần lớn chưa qua xử lý (trước năm 2009 các công ty than của Tổng công ty khai thác khoáng sản Việt Nam (TKV) ở Quảng Ninh mới chỉ có 1 đơn vị có hệ thống xử lý nước thải mỏ) và thải trực tiếp ra hệ thống sông suối gây ô nhiễm nguồn nước, bồi lấp sông suối. Kết quả kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn một số tỉnh cho thấy, tại tất cả các khâu sản xuất của dây chuyền công nghệ khai thác và chế biến đều gây ra hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép phép từ 30 đến 100 lần; riêng tỷ lệ hạt bụi chiếm từ 41,6 - 83,3 mg/m3 không khí và có hàm lượng SiO2 từ 3% - 12%, đặc biệt ở các mỏ than, mỏ đá.
Đối với chất thải rắn và chất thải nguy hại, khai thác 1 tấn than bằng công nghệ lộ thiên thải ra khoảng 4 - 6 m3 đất đá thải, cá biệt có lên đến 7 - 8 m3; khai thác hầm lò thải khoảng 2 m3/tấn than; tuyển than thải 0,3 m3/tấn than (Theo báo cáo của TKV, khối lượng bốc đất đá khai thác than tại Quảng Ninh hàng năm khoảng 200 - 216 triệu m3). Vị trí các bãi thải hầu hết đều tập trung ở các khu vực đầu nguồn sống suối, một số bãi thải lớn tập trung lân cận khu dân cư… hầu hết chưa được cải tạo ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực, sạt lở gây bồi lấp sông suối và tiềm ẩn nguy cơ tai biến môi trường.